CHA KHÔNG NHẬN CON CÓ PHẢI CẤP DƯỠNG HAY KHÔNG?

Hiện nay đất nước đang ngày càng chuyển mình sau nhiều nỗ lực hội nhập với thế giới sau những năm tháng dài phải đứng trước khó khăn. Việc phát triển đất nước giúp cho người dân tiếp xúc được với nhiều nền văn hóa khác nhau, nhiều tư tưởng đổi mới khác nhau trong đó có những tư tưởng có phần mới trong đó có những thay đổi về cách nghĩ về việc cấp dưỡng cho con cái,… Vậy câu hỏi  được đưa ra là khi có con ai sẽ nuôi dưỡng chăm sóc, nếu không nhận con thì người cha có được quyền chỉ cấp dưỡng hay không? Trong phạm vi bài viết này Luật sư VCT sẽ cùng các bạn tìm hiểu dưới góc độ quy định của pháp luật.

1. Quyền và nghĩa vụ gì đối với con của cha mẹ.

Theo Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ đối với con cái, được quy định như sau:

– Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

– Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

– Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

– Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Tức là cha mẹ phải sử dụng mọi biện pháp cố gắng đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ những người nắm giữ vận mệnh của gia đình của dân tộc trong tương lai. Mà không được quyền từ chối hoặc đối xử có sự phân biệt đối với con cái của mình. Có thể nói trách nhiệm nuôi dưỡng, dạy dỗ, hoặc cấp dưỡng cho con cái là nhiệm vụ buộc phải thực hiện và dù bằng cách nào thì cũng phải giúp cho trẻ nhận ra điều này.

2. Thế nào là cấp dưỡng?

Tại khoản 24, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng nêu rõ: Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu.

Có thể nói nghĩa vụ cấp dưỡng được xem là nghĩa vụ của bản thân đối với những người có mối quan hệ đặc biệt. Nhưng có thể thấy pháp luật quy định rõ không phải ai thì cũng nhận được cấp dưỡng và phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mà chỉ khi những người này được xác nhận quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng thì mới xảy ra nghĩa vụ cấp dưỡng. Chính vì thế cần phải đáp ứng các điều kiện theo luật định thì mới có thể được yêu cầu cấp dưỡng.

3. Căn cứ xác định huyết thống

Theo quy định tại các Điều 88, Điều 89, Điều 90, Điều 91, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Thực hiện thủ tục xác định cha, mẹ, con theo Điều 25, Luật Hộ tịch năm 2014; Điều 14, Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1, Điều 25 và khoản 1, Điều 44 của Luật Hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu:

– Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con;

– Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

–  Thông thường, các văn bản xác nhận của cơ quan y tế, cơ quan giám định xác nhận quan hệ cha, mẹ, con đều dựa trên kết luận giám định ADN.

4. Cha không nhận con có phải cấp dưỡng hay không ?

Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

– Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

– Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

– Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

– Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng (bao gồm cả trường hợp con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân). Trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định các nghĩa vụ của cha đối với con như sau:

– Cha có nghĩa vụ thương yêu con của mình, tôn trọng ý kiến của con;

– Cha có nghĩa vụ chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức;

– Cha có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con của mình đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc con của mình không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

– Cha có nghĩa vụ giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con của mình đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

– Cha có nghĩa vụ không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ;

– Cha có nghĩa vụ không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc con không có khả năng lao động;

– Cha có nghĩa vụ không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội;

– Cha có nghĩa vụ giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập;

– Cha có nghĩa vụ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận;

– Cha có nghĩa vụ làm gương tốt cho con về mọi mặt;

– Cha có nghĩa vụ phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con;

– Cha có nghĩa vụ hướng dẫn con chọn nghề;

– Cha có nghĩa vụ tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con;

– Cha có nghĩa vụ sau khi ly hôn vẫn phải trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con của mình đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc con của mình không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

– Cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn (nếu không trực tiếp nuôi con).

Ngoài ra, tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con, Điều này quy định:

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Theo đó, cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của mình, bao gồm:

– Con chưa thành niên (con dưới 18 tuổi);

– Con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (nếu trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con).

5. Trường hợp phải cấp dưỡng cho con dưới 18 tuổi ; con thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động)

Cha không nhận con phải cấp dưỡng hay không phải cấp dưỡng nuôi con (con dưới 18 tuổi; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình), sẽ tùy từng trường hợp. Cụ thể:

– Trong trường hợp cha không nhận con nhưng chưa được tòa án xác định người đó không phải là con mình bằng một bản án có hiệu lực thì người con đó theo pháp luật vẫn là con của mình, khi đó người cha vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và các nghĩa vụ khác mà pháp luật quy định người cha phải thực hiện với con của mình như đã nêu trên.

– Trong trường hợp cha không nhận con và đã được tòa án xác định người đó không phải là con mình bằng một bản án có hiệu lực thì người cha đó không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con kể từ thời điểm bản án/quyết định xác định người con đó không phải là con của mình bắt đầu có hiệu lực và việc người cha có thực hiện cấp dưỡng nuôi con hay không sẽ dựa trên tinh thần tự nguyện chứ không phải là nghĩa vụ.

Qua bài viết trên thì có lẽ bạn cũng có câu trả lời cho việc “Cha không nhận con có phải cấp dưỡng hay không?” Hi vọng bài viết của Luật sư VCT có thể giúp ích cho bạn đọc. Mọi thông tin chi tiết cần giải đáp thắc mắc hoặc liên hệ làm việc xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi. Xin chân thành cảm ơn 

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com