Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp không chỉ là giới hạn pháp lý định hình những gì doanh nghiệp được phép làm, mà còn là “hàng rào an toàn” bảo vệ cả doanh nghiệp và đối tác khỏi những rủi ro pháp lý phát sinh từ các giao dịch vượt quá thẩm quyền. Trong bối cảnh đó, Luật sư VCT cho rằng việc xác định rõ và quản lý chặt chẽ phạm vi hoạt động là yếu tố then chốt để bảo đảm tính hợp pháp của hợp đồng, phòng ngừa tranh chấp và tránh những hệ quả bất lợi về dân sự, hành chính, thậm chí hình sự. Không chỉ dừng ở việc ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, phạm vi hoạt động cần được rà soát, cập nhật và đối chiếu thường xuyên với thực tiễn kinh doanh, đặc biệt khi doanh nghiệp mở rộng sang lĩnh vực mới hoặc ký kết các hợp đồng có tính chất phức tạp. Đây chính là bước đầu tiên nhưng mang tính quyết định trong chiến lược quản trị rủi ro pháp lý của bất kỳ tổ chức kinh doanh nào.
I. Khái quát
Theo quy định của pháp luật và điều lệ, doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động trong phạm vi hoạt động hợp pháp đã được xác định. Mọi giao dịch do doanh nghiệp xác lập và thực hiện ngoài phạm vi này đều được coi là giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động. Do hậu quả pháp lý của giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động có thể dẫn đến nguy cơ bị tuyên vô hiệu, việc xác định chính xác phạm vi hoạt động của doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phạm vi này thường được thể hiện thông qua các ngành, nghề kinh doanh hoặc các hoạt động được phép ghi nhận trên:
- Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có áp dụng);
- Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp;
- Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;
- Giấy phép kinh doanh (nếu có áp dụng).
Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp có thể phát sinh một số hoạt động khác nằm ngoài phạm vi nói trên, nhưng không mang bản chất của hoạt động “kinh doanh”, nên không được ghi nhận trong bất kỳ loại giấy tờ hay giấy phép nào nêu ở trên. Hiện nay, pháp luật vẫn chưa có quy định rõ ràng về việc doanh nghiệp có được phép thực hiện các hoạt động này hay không.
II. Các nhóm hoạt động của doanh nghiệp
Nhìn chung, các hoạt động của doanh nghiệp thành bốn nhóm:
1. Hoạt động thuộc ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư 2020, sửa đổi bổ sung 2025, Doanh nghiệp không được phép có hoạt động các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh sau:
- Kinh doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục I Luật Đầu tư.
- Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục II Luật Đầu tư.
- Kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III của Luật Đầu tư.
- Kinh doanh mại dâm.
- Mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người.
- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.
- Kinh doanh pháo nổ.
- Kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
- Kinh doanh mua bán bảo vật quốc gia
- Kinh doanh xuất khẩu di vật, cổ vật.
Doanh nghiệp không được thực hiện bất kỳ ngành nghề nào nêu trên vì đây là hành vi bị cấm theo Luật Doanh nghiệp (khoản 1 Điều 7). Mọi hợp đồng và giao dịch của doanh nghiệp liên quan đến ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh đều bị mặc nhiên vô hiệu.
Điển hình, vụ án Công ty Luật TNHH Pháp Việt năm 2023 đã bị đưa ra xét xử với 111 bị cáo về tội Cưỡng đoạt tài sản. Đây là đường dây núp bóng “công ty luật” để thực hiện dịch vụ đòi nợ thuê theo kiểu “xã hội đen” đối với 172.629 người vay ngân hàng hoặc công ty tài chính, chiếm đoạt hơn 456 tỷ đồng, gây hoang mang dư luận cả nước. Vụ việc là minh chứng điển hình cho hậu quả pháp lý và hình sự nghiêm khắc khi doanh nghiệp tham gia ngành nghề bị cấm đầu tư kinh doanh.
2. Hoạt động thuộc ngành nghề đăng ký kinh doanh.
Phạm vi hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp được xác định trước hết thông qua ngành nghề đăng ký kinh doanh. Đây là tập hợp các hoạt động mà doanh nghiệp đã lựa chọn, kê khai trong hồ sơ đăng ký thành lập và được ghi nhận công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Mọi sửa đổi, bổ sung ngành nghề đều phải tuân thủ thủ tục thông báo tới cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và nghị định 168/2025/NĐ-CP.
Hiện nay, các ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện qua hai nguồn chính (i) Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được ghi nhận công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và (ii) Điều lệ doanh nghiệp (quy định chi tiết về phạm vi ngành nghề được phép hoạt động).
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phạm vi hoạt động còn có thể bị ràng buộc thêm bởi mục tiêu và quy mô dự án đầu tư trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Điều này đồng nghĩa, dù đã đăng ký ngành nghề, doanh nghiệp vẫn không thể hoạt động vượt quá mục tiêu và quy mô đã cam kết.
Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được mô tả trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và được công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Hiện nay Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không còn ghi nhận ngành nghề kinh doanh.
Trên thực tế, phạm vi hoạt động này vẫn mang tính hình thức, vì danh mục ngành nghề được phép đăng ký phải tuân thủ Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp không thể kê khai chung chung theo hướng “được thực hiện mọi hoạt động mà pháp luật không cấm” — mỗi hoạt động kinh doanh phải được xác định cụ thể trong danh mục ngành nghề.
Sau khi đăng ký, thông tin về ngành nghề kinh doanh sẽ được lưu trữ và công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, và mọi thay đổi phải được thông báo kịp thời tới cơ quan đăng ký kinh doanh. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động trong phạm vi ngành nghề đã đăng ký và được công khai, trừ các hoạt động hỗ trợ, phụ trợ không mang bản chất kinh doanh.
Một vấn đề gây nhiều tranh luận là việc xác định phạm vi hoạt động của công ty mẹ. Trên thực tế, không ít công ty mẹ được thành lập chỉ nhằm mục đích nắm giữ vốn góp hoặc cổ phần tại công ty con và không trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh nào khác.
Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hiện không cho phép đăng ký ngành nghề với tên gọi “nắm giữ phần vốn góp hoặc cổ phần” hay “đầu tư góp vốn, mua cổ phần” vào công ty con, bởi:
- Đây không phải là ngành nghề kinh doanh trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
- Không có văn bản pháp luật nào quy định “nắm giữ vốn góp” hay “mua cổ phần” là một ngành nghề kinh doanh độc lập.
Do đó, để thực hiện hoạt động này, công ty mẹ thường đăng ký một ngành nghề kinh doanh hợp pháp khác (thường tương đồng với ngành nghề của công ty con) trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Ví dụ: Công ty A được thành lập với vai trò công ty mẹ, sở hữu 100% vốn của Công ty B. Công ty A không trực tiếp sản xuất hay kinh doanh dịch vụ, mà chỉ nhận cổ tức từ Công ty B.
- Khi đăng ký kinh doanh, Công ty A không thể ghi ngành nghề là “nắm giữ phần vốn góp” do không tồn tại trong hệ thống ngành kinh tế.
- Để hợp thức hóa hồ sơ, Công ty A đăng ký ngành nghề “Sản xuất linh kiện điện tử” (cùng ngành với Công ty B) dù thực tế không trực tiếp sản xuất.
- Sau này, khi cơ quan thuế kiểm tra, hoạt động của Công ty A vẫn được coi là hợp pháp, bởi quyền sở hữu vốn góp là quyền dân sự, không bắt buộc phải đăng ký thành ngành nghề kinh doanh.
Điều lệ và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Theo khoản 2 Điều 24 Luật Doanh nghiệp, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp là một nội dung bắt buộc trong Điều lệ công ty. Khi thay đổi ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh theo Điều 49 Nghị định 168/2025/NĐ-CP.
Trên thực tế, nhiều Điều lệ quy định theo hướng “doanh nghiệp được phép kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm”, tuy nhiên cách ghi này ít giá trị pháp lý, vì phạm vi hoạt động thực tế vẫn bị giới hạn ở các ngành nghề đã đăng ký trong hồ sơ và được công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trong một số lĩnh vực, còn phải tuân thủ thêm điều kiện về giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, phạm vi hoạt động có thể bị thu hẹp hơn nữa, phụ thuộc vào mục tiêu và quy mô dự án được phê duyệt trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Hành vi kinh doanh không đúng ngành nghề đăng ký không phải là vi phạm và không bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, nếu có thay đổi ngành nghề mà không thực hiện thông báo theo đúng quy định, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 122/2021/NĐ-CP. Cụ thể:
- Cảnh cáo nếu chậm thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp từ 01 đến 10 ngày.
- Phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng nếu chậm từ 11 đến 30 ngày.
- Phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng nếu chậm từ 31 đến 90 ngày.
- Phạt từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng nếu chậm từ 91 ngày trở lên.
- Phạt từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng nếu không thông báo thay đổi nội dung đăng ký.
Biện pháp khắc phục: Bắt buộc gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh
3. Hoạt động thuộc ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Đây là những hoạt động mà doanh nghiệp chỉ được phép thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện cụ thể do pháp luật quy định và phải duy trì điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động. Các điều kiện này nhằm bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Theo Luật Đầu tư 2020, hiện có 232 ngành nghề thuộc diện đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Điều kiện phổ biến nhất là giấy phép kinh doanh, trong đó phạm vi hoạt động của doanh nghiệp sẽ được ghi rõ. Chẳng hạn, hoạt động của ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán… đều được quy định chi tiết trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính hoặc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Ngoài ra, điều kiện kinh doanh còn có thể bao gồm: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; chứng chỉ hành nghề; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; vốn pháp định; sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoặc các yêu cầu chuyên ngành khác.
Tương tự như ngành nghề cấm kinh doanh, doanh nghiệp bị nghiêm cấm (i) kinh doanh ngành nghề có điều kiện khi chưa đáp ứng đủ điều kiện hoặc (ii) tiếp tục kinh doanh khi không duy trì điều kiện đó. Mọi hợp đồng hoặc giao dịch liên quan đến ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nếu được ký trước khi doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ điều kiện, đều bị tuyên vô hiệu vì vi phạm điều cấm của pháp luật. Quy định này được ghi nhận tại Khoản 16 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020 và Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội.
Ví dụ: Một công ty chứng khoán ký hợp đồng môi giới khi chưa được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp phép. Hợp đồng này sẽ bị tuyên vô hiệu, và công ty có thể bị xử phạt hành chính hoặc thu hồi giấy phép nếu vẫn tiếp tục thực hiện.
4. Hoạt động khác không có bản chất là hoạt động kinh doanh
Một vấn đề pháp lý vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau là: đối với các hoạt động không ghi cụ thể trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhưng pháp luật cho phép hoặc không cấm, liệu doanh nghiệp có được tự do thực hiện mà không cần đăng ký hay không. Nếu ba nhóm hoạt động trước có quy định rõ ràng, thì nhóm này lại khó đưa ra kết luận dứt khoát.
Ví dụ điển hình là việc doanh nghiệp góp vốn, mua cổ phần trong doanh nghiệp khác, hoặc cho vay, bảo lãnh cho tổ chức, cá nhân. Trong thực tế, doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều hoạt động như: góp vốn hoặc mua cổ phần ở doanh nghiệp khác; huy động vốn qua vay ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu; cho công ty con vay hoặc bảo lãnh để công ty con vay ngân hàng; hoặc mua bán tài sản. Đây đều là hoạt động được pháp luật cho phép nhưng không được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp:
(i) lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn;
(ii) chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản;
(iii) tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng;
(iv) kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu;
(v) tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động;
(vi) ứng dụng khoa học, công nghệ;
(vii) từ chối cung cấp nguồn lực nếu không có căn cứ pháp luật.
Luật Đầu tư 2020 cũng công nhận rõ quyền của nhà đầu tư (bao gồm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI) được góp vốn, mua cổ phần trong bất kỳ tổ chức kinh tế nào. Đây là các quyền theo luật định, và doanh nghiệp gần như không thể loại bỏ chúng khỏi hoạt động bình thường của mình.
Doanh nghiệp chỉ phải đăng ký hoặc thông báo thay đổi khi thực hiện một hoạt động có bản chất là ngành nghề kinh doanh. Theo định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp 2020, “kinh doanh” là hoạt động liên tục và nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Chỉ khi một hoạt động đáp ứng đồng thời hai đặc tính này, nó mới bị coi là hoạt động kinh doanh, kéo theo nghĩa vụ đăng ký và (nếu là ngành nghề có điều kiện) phải đáp ứng đầy đủ điều kiện trước khi thực hiện. Ngược lại, nếu hoạt động không mang tính liên tục hoặc không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, doanh nghiệp được thực hiện mà không cần đăng ký.
Tuy nhiên, việc xác định thế nào là “liên tục” và “nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” hiện vẫn chưa được luật hoặc văn bản chuyên ngành hướng dẫn cụ thể. Nếu tiêu chí này được quy định rõ ràng hơn, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp sẽ trở nên minh bạch và dễ xác định hơn.
Ví dụ: Doanh nghiệp không thể vay vốn ngân hàng để kinh doanh chất ma túy, vì đây là ngành nghề bị cấm. Trong một số vụ án, việc xác định bản chất hoạt động cũng là yếu tố mấu chốt. Chẳng hạn, trong vụ Nguyễn Đức Kiên (“bầu Kiên”, 2014), bị cáo bị truy tố về tội “kinh doanh trái phép” khi thực hiện một số hoạt động tài chính mà cơ quan tố tụng cho rằng có bản chất là hoạt động kinh doanh nhưng chưa đáp ứng quy định pháp luật.
III. Hậu quả pháp lý của giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động của doanh nghiệp
Trong thực tiễn, các tòa án chưa thống nhất trong việc áp dụng hai tiêu chí “tính liên tục” và “mục đích tìm kiếm lợi nhuận” để xác định giao dịch có vượt quá phạm vi hoạt động hay không. Hệ quả là ngay cả các giao dịch đơn lẻ, không thường xuyên và chưa rõ ràng nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng có thể bị coi là vượt phạm vi. Tuy nhiên, những hoạt động không mang bản chất kinh doanh không thuộc diện phải đăng ký ngành nghề, nên doanh nghiệp vẫn có quyền thực hiện. Vì vậy, không nên mặc nhiên gắn nhãn “vượt phạm vi hoạt động” cho các giao dịch này.
Theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989: Hợp đồng bị vô hiệu toàn bộ nếu một bên không có đăng ký kinh doanh cho công việc đã thỏa thuận. Nghị quyết 04 hướng dẫn phân biệt hai trường hợp:
- Chưa đăng ký và vẫn chưa đăng ký trước khi tranh chấp phát sinh → Hợp đồng vô hiệu toàn bộ.
Ví dụ: Công ty A chưa đăng ký ngành xây dựng công nghiệp, ký hợp đồng xây dựng, phát sinh tranh chấp, và trước thời điểm tranh chấp vẫn chưa bổ sung ngành nghề → hợp đồng vô hiệu.
- Chưa đăng ký khi ký nhưng đã bổ sung trước khi tranh chấp phát sinh → Hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Ví dụ: Nếu Công ty A đã bổ sung ngành xây dựng công nghiệp trước khi tranh chấp xảy ra → hợp đồng không bị coi là vô hiệu.
Dù Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 đã hết hiệu lực, hướng dẫn trên vẫn được một số tòa án áp dụng. Trong thực tiễn, một số tòa mặc định hợp đồng vượt phạm vi là vô hiệu vì “vi phạm điều cấm của pháp luật”, trong khi một số khác linh hoạt hơn, chấp nhận hiệu lực nếu doanh nghiệp kịp bổ sung ngành nghề trước khi tranh chấp.
Ví dụ điển hình: Vụ Công ty Hồng Kông và Công ty Eta Star International Limited (2010). Ngày 25/01/2008, Công ty Hồng Kông ký hợp đồng tư vấn khi chưa có ngành nghề tư vấn trong giấy chứng nhận đầu tư. Sau đó, công ty bổ sung ngành “tư vấn đầu tư”. Khi tranh chấp phát sinh, TAND TP.HCM nhận định hợp đồng “tuy chưa đủ điều kiện nhưng không vi phạm điều cấm” và nguyên đơn đã bổ sung ngành nghề trước thời điểm tranh chấp, nên hợp đồng vẫn có hiệu lực và bị đơn phải thanh toán phí tư vấn.
Bên cạnh đó, có thể thấy giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động của doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực hợp đồng mà còn có thể kéo theo nhiều hệ quả pháp lý khác nhau, bao gồm cả trách nhiệm dân sự, hành chính và thậm chí là hình sự. Cụ thể:
Trách nhiệm dân sự
Theo Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tỉnh trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên cạnh đó, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Như vậy, doanh nghiệp giao kết hợp đồng hoặc giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động của mình có thể bị bên còn lại yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh từ hậu quả hợp đồng hoặc giao dịch bị tuyên vô hiệu. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, việc đòi bồi thường thiệt hại này chưa thực sự phổ biến.
Trách nhiệm hành chính
Việc doanh nghiệp chưa đăng ký ngành nghề kinh doanh có liên quan đến hợp đồng được doanh nghiệp ký có thể dẫn đến doanh nghiệp đó chịu trách nhiệm hành chính. Cụ thể, doanh nghiệp có thể bị phạt tiền vì có hành vi kinh doanh ngành nghề không có trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Trách nhiệm hình sự
Trước đây, việc doanh nghiệp kinh doanh “không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giây phép riêng” có thể làm phát sinh trách sự của cá nhiều có liên quan. Trước đây quy định tại Điều 159 Bộ luật Hình sự 1999:
“Điều 159. Tội kinh doanh trái phép
1. Người nào kinh doanh không có đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng với nội dung đã đăng ký hoặc kinh doanh không có giấy phép riêng đồng trường hợp pháp luật quy định phải có giấy phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm: […]”
“Tội kinh doanh trái phép” không còn được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015. Việc bỏ tội kinh doanh trái phép ra khỏi các tội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự được hiểu là nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp 2013 cũng như bảo đảm sự phù hợp với các quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014. Tuy vậy, Bộ luật Hình sự 2015 vẫn có quy định tội phạm đối với hành vi kinh doanh trong một số lĩnh vực cụ thể mà không có giấy phép hoặc không đúng nội dung được cấp phép, ví dụ như “tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên” theo Điều 227 hay “tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông” theo Điều 292 của Bộ luật Hình sự 2015.
IV. Kiến nghị của Luật sư VCT
Một hoạt động kinh doanh hoặc dịch vụ dự kiến triển khai cần được doanh nghiệp bổ sung ngành, nghề đăng ký kinh doanh trước khi tiến hành thực hiện nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Thỏa cả hai tiêu chí: (i) liên tục (lặp lại, quy trình/hệ thống hóa, có nhân sự/dòng sản phẩm/dịch vụ riêng) và (ii) mục đích tìm kiếm lợi nhuận (doanh thu/lợi nhuận/biên lợi nhuận dự kiến).
- Hoặc: hoạt động thuộc Danh mục có điều kiện → phải được cấp phép/đáp ứng điều kiện trước khi ký/thi hành hợp đồng.
Việc bổ sung ngành, nghề kinh doanh kịp thời không chỉ giúp doanh nghiệp bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật, tránh nguy cơ bị xử phạt hành chính hoặc bị tuyên bố giao dịch vô hiệu, mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai các hoạt động mới một cách minh bạch, thuận lợi trong hợp tác thương mại và đầu tư.
Khi doanh nghiệp dự định ký kết một hợp đồng liên quan đến hoạt động mới hoặc chưa từng thực hiện trước đây, cần tiến hành rà soát theo quy trình kiểm tra (checklist) sau để bảo đảm tuân thủ pháp luật và hạn chế rủi ro pháp lý:
Bước 1 – Nhận diện bản chất hoạt động
Xác định rõ hoạt động sắp thực hiện có phải là hoạt động kinh doanh (tạo doanh thu, lợi nhuận, mang tính chất thương mại, được tiến hành thường xuyên) hay chỉ là hoạt động phi thương mại, hỗ trợ nội bộ. Việc phân định này là cơ sở quyết định xem có cần bổ sung ngành nghề hoặc xin phép hay không.
Bước 2 – Đối chiếu với danh mục ngành nghề cấm hoặc có điều kiện
Tra cứu và so sánh hoạt động dự kiến với Điều 6 Luật Đầu tư 2020 (ngành nghề cấm) và Phụ lục IV của Luật Đầu tư (ngành nghề kinh doanh có điều kiện). Nếu thuộc nhóm có điều kiện, cần lưu ý các yêu cầu về giấy phép, chứng chỉ, vốn pháp định, hoặc điều kiện khác.
Bước 3 – Rà soát hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
Kiểm tra thông tin ngành nghề đã đăng ký trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ công ty, và các giấy phép hiện hữu. Mục tiêu là xác định xem hoạt động dự kiến đã nằm trong phạm vi ngành nghề hiện tại chưa.
Bước 4 – Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)
So sánh hoạt động dự kiến với mục tiêu và quy mô dự án được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT). Nếu hoạt động nằm ngoài phạm vi này, cần thực hiện thủ tục điều chỉnh GCNĐKĐT trước khi ký hợp đồng.
Bước 5 – Bổ sung ngành nghề hoặc xin giấy phép khi cần thiết
Nếu kết quả rà soát cho thấy hoạt động chưa có trong ngành nghề đăng ký hoặc chưa đáp ứng điều kiện, doanh nghiệp phải thực hiện bổ sung ngành nghề/xin cấp phép theo quy định tại Nghị định 168/2025 hoặc pháp luật chuyên ngành, hoàn tất trước khi ký hợp đồng.
Bước 6 – Thiết lập điều khoản điều kiện tiên quyết trong hợp đồng
Đưa vào hợp đồng các điều khoản quy định rõ: hợp đồng chỉ có hiệu lực khi doanh nghiệp đã được cấp giấy phép hoặc hoàn tất thủ tục bổ sung ngành nghề. Điều này giúp tránh rủi ro hợp đồng bị vô hiệu hoặc vi phạm pháp luật.
Bước 7 – Lưu vết phê duyệt nội bộ và đánh giá rủi ro
Lưu trữ toàn bộ hồ sơ, biên bản họp, quyết định phê duyệt, và đánh giá rủi ro pháp lý liên quan. Việc này giúp doanh nghiệp có bằng chứng chứng minh rằng hoạt động được xem xét kỹ và có thể bảo vệ quan điểm “không kinh doanh” trong trường hợp bị cơ quan chức năng kiểm tra hoặc tranh chấp phát sinh.
Việc tuân thủ đầy đủ 7 bước này không chỉ bảo đảm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hợp pháp, mà còn giúp quản trị rủi ro, tránh được chi phí khắc phục và xử phạt về sau.
Tóm lại, giao dịch vượt quá phạm vi hoạt động của doanh nghiệp là một hiện tượng pháp lý phức hợp, không thể chỉ nhìn nhận qua “lăng kính” hiệu lực hợp đồng, mà phải đánh giá đồng thời trên cả ba phương diện dân sự, hành chính và hình sự. Trong khuôn khổ pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, việc nhận diện và xử lý loại giao dịch này cần vượt qua các tiêu chí hình thức như tính đơn lẻ hay thường xuyên, để đi sâu vào mục đích kinh tế, sự phù hợp với ngành nghề đã đăng ký, và tác động thực tế đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan. Điều này đặt ra yêu cầu cho Tòa án và cơ quan có thẩm quyền phải vận dụng đồng thời sự linh hoạt trong giải thích pháp luật và sự nghiêm ngặt trong áp dụng, nhằm vừa bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia, vừa duy trì trật tự, kỷ cương trong môi trường kinh doanh.
Nếu Quý khách hàng đang có nhu cầu tư vấn cụ thể liên quan đến các vấn đề pháp lý trong quản trị doanh nghiệp, xin vui lòng liên hệ với Luật sư VCT để được hỗ trợ kịp thời, chính xác và hiệu quả.
Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.
Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật về đất đai của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com.Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật.
Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.
Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40 hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách.
Văn phòng Luật sư VCT
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.luatsuvct.com
- CSKH: info@luatsuvct.com

