NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ

Nếu giao dịch giữa tôi và một người bị vô hiệu, nhưng tài sản của tôi đã được chuyển giao cho người thứ ba khác thì tôi có đòi lại được tài sản của mình hay không? 

Đây là thực trạng rất phổ biến hiện nay, để giải đáp cho câu hỏi này, sau đây Luật sư VCT sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan về “Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự”. Cùng theo dõi để tham khảo nhé! 

Ngay tình là gì?

Hiện nay, pháp luật không quy định cụ thể về khái niệm “ngay tình”. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 180 Bộ luật dân sự (BLDS) 2015, có thể hiểu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”. 

Quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự

Khái niệm “người thứ ba ngay tình” sẽ xuất hiện khi có một giao dịch liên quan đến giao dịch mà người này xác lập, thực hiện bị vô hiệu dẫn đến giao dịch của người này cũng có thể bị vô hiệu. 

Theo đó, căn cứ theo quy định tại Điều 133 BLDS 2015, pháp luật sẽ bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, việc bảo vệ sẽ tùy thuộc và từng trường hợp. 

Tài sản không phải đăng ký.

Theo khoản 1 Điều 133 BLDS 2015: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này. Theo đó, Điều 167 BLDS 2015 quy định quyền đòi lại tài sản (không phải đăng ký) của chủ sở hữu từ người thứ ba ngay tình sẽ tùy thuộc vào loại giao dịch mà người thứ ba có được tài sản.

Trường hợp 1: Người thứ ba có được tài sản thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản thì người thứ ba ngay tình không được xác lập quyền sở hữu, chủ sở hữu được quyền đòi lại tài sản.

Hợp đồng không có đền bù là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được từ bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một lợi ích nào. Nói cách khác, hợp đồng không có đền bù thông thường là hợp đồng mà bên nhận chuyển giao không có nghĩa vụ thanh toán, chẳng hạn như hợp đồng tặng cho, hợp đồng gửi giữ tài sản (không trả phí).

Trường hợp 2: Người thứ ba có được tài sản thông qua hợp đồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản thì chủ sở hữu chỉ được đòi lại tài sản nếu tài sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu. Còn các trường hợp khác chiếm hữu trong ý chí của chủ sở hữu, chẳng hạn như trường hợp A (chủ sở hữu) tặng cho B, B bán cho C thì A (chủ sở hữu) sẽ không được đòi lại tài sản này.

Hợp đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng chẳng hạn như hợp đồng mua bán chuyển nhượng.

Tài sản đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 133 BLDS 2015, quyền sở hữu của người thứ ba ngay tình trong trường hợp tài sản phải đăng ký cũng được xác định theo 02 trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Ví dụ: A ký kết hợp đồng mua bán xe máy với B, B sau đó đã đăng ký sang tên tại cơ quan có thẩm quyền và bán xe này cho C, C căn cứ vào việc giấy tờ xe đứng tên B mà đồng ý xác lập, thực hiện giao dịch này thì khi giao dịch giữa A và B vô hiệu, giao dịch giữa B và C vẫn có hiệu lực.

Trường hợp 2: Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu.

Tuy nhiên nếu người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực.

Hai trường hợp này đều có điểm chung là “xác định sự ngay tình của người thứ ba”. Đối với tài sản phải đăng ký nhưng nếu chưa đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, vốn dĩ người thứ ba biết và buộc phải biết rằng giao dịch này sẽ vô hiệu nhưng người thứ ba lại vẫn chấp nhận xác lập, thực hiện giao dịch. Như vậy, tính “ngay tình” trong trường hợp này không còn được thỏa mãn. Và vì thế giao dịch đối với người thứ ba cũng không được công nhận.

Tuy nhiên, nếu người thứ ba mua tài sản này từ buổi bán đấu giá hay có được từ bản án, quyết định của nhà nước thì giao dịch này vẫn có hiệu lực. Nguyên nhân bởi vì tài sản đã được nhà nước can thiệp, nếu nhà nước biết nhưng vẫn thực hiện thì lỗi đến từ phía nhà nước, có cơ sở cho rằng người thứ ba là ngay tình.

Quyền của chủ sở hữu đối với giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình

  • Quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình nếu thuộc trường hợp được đòi lại tài sản như đã đề cập.
  • Quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại (trong các trường hợp chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình theo quy định pháp luật).

Bất cập trong việc xác định người thứ ba ngay tình 

Từ thực tiễn giải quyết các vụ việc cho thấy hiện nay có hai quan điểm trong việc xác định người thứ ba ngay tình. 

Ví dụ: A bán tài sản cho B, B bán tài sản cho C, sau đó C lại bán tài sản cho D. Khi giao dịch giữa A và B vô hiệu, thì C hay D sẽ được xác định là người thứ ba ngay tình?

Quan điểm thứ nhất: Người thứ ba ngay tình là người thứ ba đối với giao dịch dân sự vô hiệu. Như vậy, A và B sẽ là hai bên trong giao dịch dân sự vô hiệu và C sẽ là người thứ ba.

Quan điểm thứ hai: Người thứ ba ngay tình là người được chuyển giao tài sản “lần thứ ba”. Trong trường hợp này, A chuyển giao tài sản cho B (lần 1), B chuyển giao tài sản cho C (lần 2) và C chuyển giao tài sản cho D (lần 3). Như vậy, D sẽ là người thứ ba được đề cập trong quy định này. 

Tuy nhiên, dựa vào các bản án đã được tuyên, quan điểm thứ nhất là quan điểm được áp dụng. Hơn nữa, có thể thấy nếu áp dụng quan điểm thứ hai thì trong trường hợp C ngay tình thì C lại không được bảo vệ bất cứ quyền gì của mình. 

Kết luận

Không phải mọi trường hợp giao dịch với người thứ ba ngay tình đều sẽ được công nhận hiệu lực. Trong trường hợp chủ sở hữu không được quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, chủ sở hữu vẫn được pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quan điểm xoay quanh việc xác định người thứ ba ngay tình khiến chế định trên thực tế còn nhiều bất cập.

Trên đây là một số nội dung liên quan đến bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự. Nếu có thắc mắc liên quan đến vấn đề này, độc giả vui lòng liên hệ bộ phận pháp lý AV Bình Dương.

=======================================

CÔNG TY LUẬT TNHH PHÁP LÝ AV BÌNH DƯƠNG
– Giải đáp trong việc thực hiện các thủ tục, hồ sơ,….
– Tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp
– Thực hiện hồ sơ tố tụng,..
– Đại diện uỷ quyền,..
– Tư vấn pháp luật về quản lý và xử lý nợ
Địa chỉ Văn Phòng: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
Email: LuatsuVCT@gmail.com
Hotline: 0971.174.040 -0939.296.588
Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com