Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, các giao dịch mua bán – sáp nhập doanh nghiệp (M&A) không chỉ là công cụ tái cấu trúc phổ biến mà còn là kênh đầu tư chiến lược được cả nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ lợi ích quốc gia, các giao dịch M&A cần được kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống pháp luật về cạnh tranh và đầu tư.
Trong bài viết này, luật sư VCT sẽ phân tích qua cơ chế kiểm soát giao dịch M&A tại Việt Nam dưới hai góc độ pháp lý quan trọng: Luật Cạnh tranh và Luật Đầu tư, đồng thời chỉ ra những điểm giao thoa, vướng mắc thực tiễn và đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho doanh nghiệp.
1. Tổng quan về giao dịch M&A tại Việt Nam
M&A (Mergers and Acquisitions – sáp nhập và mua lại doanh nghiệp) là hoạt động phổ biến trong nền kinh tế thị trường, giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Tại Việt Nam, M&A không chỉ chịu sự điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, mà còn chịu sự kiểm soát từ góc độ pháp luật cạnh tranh và quản lý đầu tư nước ngoài.
2. M&A nhìn từ góc độ cạnh tranh
Luật Cạnh tranh 2018 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2019) đã mở rộng phạm vi điều chỉnh và tăng cường cơ chế kiểm soát đối với hoạt động tập trung kinh tế, trong đó bao gồm các hình thức giao dịch M&A như sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại, thành lập liên doanh và các hình thức tương tự khác.
Theo đó, để thực hiện giao dịch M&A mà không vi phạm pháp luật cạnh tranh, doanh nghiệp có thể phải thực hiện nghĩa vụ thông báo trước với Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia nếu giao dịch đáp ứng ngưỡng thông báo tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP.
a. Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế thông thường:
Một trong các điều kiện sau là đủ để giao dịch phải thông báo:
- Tổng tài sản tại Việt Nam của một trong các bên ≥ 3.000 tỷ đồng;
- Tổng doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào tại Việt Nam của một trong các bên ≥ 3.000 tỷ đồng;
- Giá trị giao dịch của hoạt động tập trung kinh tế ≥ 1.000 tỷ đồng;
- Thị phần kết hợp của các bên tham gia tập trung kinh tế ≥ 20%.
b. Ngưỡng riêng đối với doanh nghiệp trong ngành tài chính:
Do đặc thù ngành tài chính, bảo hiểm và chứng khoán, các giao dịch trong lĩnh vực này được áp dụng ngưỡng riêng biệt, cao hơn so với thông thường:
- Tổng tài sản:
- Doanh nghiệp bảo hiểm / công ty chứng khoán: ≥ 15.000 tỷ đồng;
- Tổ chức tín dụng: ≥ 20% tổng tài sản của hệ thống các TCTD.
- Doanh thu/doanh số:
- Bảo hiểm: ≥ 10.000 tỷ đồng;
- Chứng khoán: ≥ 3.000 tỷ đồng;
- Tổ chức tín dụng: ≥ 20% tổng doanh thu toàn hệ thống TCTD.
- Giá trị giao dịch:
- Bảo hiểm / chứng khoán: ≥ 3.000 tỷ đồng;
- Tổ chức tín dụng: ≥ 20% tổng vốn điều lệ toàn hệ thống TCTD.
- Thị phần kết hợp: ≥ 20% trên thị trường liên quan.
Mặc dù các quy định trên tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc kiểm soát các giao dịch M&A có nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh, nhưng trên thực tế đã phát sinh nhiều vướng mắc, trong đó có thể kể đến hai tình huống điển hình:
Thứ nhất, Giao dịch đấu giá cổ phần khi Nhà nước thoái vốn
Khi doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư tham gia đấu giá mua cổ phần của doanh nghiệp Nhà nước thoái vốn mà giá trị giao dịch hoặc thị phần đạt ngưỡng thông báo, họ sẽ phải nộp hồ sơ thông báo trước cho UBCTQG. Tuy nhiên:
- Việc thông báo phát sinh chi phí tuân thủ, trong khi chưa chắc chắn rằng bên mua sẽ trúng đấu giá;
- Pháp luật chưa quy định rõ ràng tình huống trúng đấu giá nhưng sau đó bị cấm thực hiện giao dịch vì vi phạm Luật Cạnh tranh, gây bất ổn pháp lý và rủi ro cho nhà đầu tư.
Thứ hai, Thời gian thẩm định kéo dài so với thời hạn chào mua công khai
Đối với các giao dịch phải thực hiện chào mua công khai (ví dụ trên sàn chứng khoán), thời hạn thực hiện chào mua công khai theo Luật Chứng khoán là có giới hạn, trong khi thời gian UBCTQG tiến hành đánh giá chính thức một giao dịch tập trung kinh tế có thể kéo dài. Pháp luật hiện hành lại không cho phép bên mua được rút lại đề nghị chào mua công khai trong trường hợp giao dịch bị cấm, dẫn đến xung đột giữa các quy trình pháp lý.
Việc mở rộng và siết chặt cơ chế kiểm soát giao dịch M&A từ góc độ cạnh tranh là cần thiết để duy trì thị trường cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh mục tiêu quản lý nhà nước, pháp luật cũng cần tạo ra một môi trường pháp lý dự đoán được – minh bạch – hiệu quả, qua đó giúp doanh nghiệp tự tin thực hiện các chiến lược M&A hợp pháp, giảm thiểu rủi ro, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Để tăng tính hiệu quả và minh bạch cho cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam, cần:
- Rà soát, làm rõ quy định về quyền kiểm soát và chi phối trong các tình huống thực tiễn, đặc biệt đối với quyền phủ quyết;
- Thiết lập cơ chế tạm hoãn nghĩa vụ thông báo hoặc quy trình thẩm định nhanh cho các giao dịch đấu giá công khai;
- Cho phép rút lại đề nghị chào mua công khai nếu giao dịch bị cấm thực hiện theo Luật Cạnh tranh;
- Tăng cường trao đổi thông tin và hướng dẫn kịp thời từ UBCTQG cho doanh nghiệp, giảm thiểu thời gian và chi phí tư vấn, xác minh;
- Cơ quan quản lý cần theo sát thực tiễn, ghi nhận ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp và giới chuyên gia pháp lý để hoàn thiện chính sách một cách linh hoạt và thực tiễn hơn.
3. M&A Góc nhìn đầu tư nước ngoài
Trong những năm gần đây, M&A đã trở thành một trong những hình thức đầu tư chiến lược được nhà đầu tư nước ngoài ưa chuộng tại Việt Nam. Điểm hấp dẫn của hình thức này là giúp nhà đầu tư thâm nhập thị trường nhanh, tiết kiệm chi phí và tận dụng ngay các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp nội địa (tài sản, khách hàng, hệ thống phân phối, nhân lực…). Thực chất, M&A là một hình thức tái cấu trúc sở hữu và kiểm soát, trong đó nhà đầu tư nước ngoài có thể mua lại cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế Việt Nam để đạt được quyền kiểm soát mà không phải thành lập pháp nhân mới. Nhờ đó, nhà đầu tư có thể rút ngắn thời gian, giảm thủ tục đầu tư và tránh được các quy trình xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như khi thực hiện dự án đầu tư mới.
Theo quy định tại Điều 24 Luật Đầu tư 2020, Nhà đầu tư nước ngoài được quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế phải đáp ứng các quy định. Việc đầu tư này giúp nhà đầu tư::
- Tiếp cận nhanh thị trường, giảm thời gian xây dựng cơ sở vật chất;
- Tận dụng đội ngũ quản lý, nhân sự, công nghệ của doanh nghiệp mục tiêu;
- Giảm thiểu rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình xin phép đầu tư ban đầu;
- Tối ưu thuế và chi phí đầu tư ban đầu.
Cơ chế M&A đối với các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng được pháp luật hoàn thiện, kiểm soát các giao dịch M&A từ góc độ đầu tư nước ngoài được thiết kế nhằm đảm bảo an ninh kinh tế – quốc gia, bảo vệ ngành nghề nhạy cảm, đồng thời vẫn thu hút dòng vốn FDI chất lượng.
Thứ nhất, Kiểm soát tiếp cận thị trường: Danh mục hạn chế
Theo Quy định của Luật Đầu tư 2020, Nghị định 31/2021/NĐ-CP, Căn cứ luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ công bố Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm:
a) Ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường;
b) Ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện.
Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường được quy định tại Phụ lục I Nghị định 31/2021/NĐ-CP.
Thứ hai, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài:
- Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;
- Hình thức đầu tư;
- Phạm vi hoạt động đầu tư;
- Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;
- Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Thứ ba, thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế trước khi thay đổi thành viên, cổ đông nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp làm tăng tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tại tổ chức kinh tế kinh doanh ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài;
- Việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp dẫn đến việc nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 23 của Luật Đầu tư nắm giữ trên 50% vốn điều lệ của tổ chức kinh tế trong các trường hợp: tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài từ dưới hoặc bằng 50% lên trên 50%; tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu trên 50% vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế;
- Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.
Nếu thuộc các trường hợp nêu trên, Tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp nộp 01 bộ hồ sơ đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp cho cơ quan đăng ký đầu tư nơi tổ chức kinh tế đặt trụ sở chính (tức là Sở Kế hoạch và đầu tư).
4. Kết luận
M&A là con đường ngắn nhất để nhà đầu tư nước ngoài mở rộng hiện diện tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ là cần thiết để bảo vệ các lợi ích chiến lược quốc gia. Thách thức đặt ra là làm thế nào để kiểm soát hiệu quả mà vẫn đảm bảo tính minh bạch, dự đoán được và thân thiện với nhà đầu tư.
Về mặt pháp lý, một thương vụ M&A có yếu tố nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thể đồng thời phải chịu sự điều chỉnh của hai cơ chế pháp luật độc lập: Luật Đầu tư và Luật Cạnh tranh. Giả sử, Các thương vụ M&A đều thuộc 2 trường hợp phải thực hiện hồ sơ đến (1) Sở Kế hoạch và Đầu tư và (2) Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia. Điểm đáng lưu ý rằng, cả hai thủ tục này đều là thủ tục pháp lý tương ứng trước khi được phép thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, trên thực tế, Việt Nam chưa có một quy chế phối hợp hành chính hay cơ chế pháp lý chính thức nào giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư (đại diện là Sở KH&ĐT các tỉnh, thành phố) và Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trong việc xử lý các hồ sơ có sự giao thoa này. Điều đó tạo ra ba hệ quả nghiêm trọng:
(i) Trễ hạn và kéo dài thời gian xử lý hồ sơ – rủi ro vô hình nhưng hữu thực: cụ thể dẫn đến tình trạng tồn đọng hồ sơ và kéo dài thời gian xử lý điều này dễ dẫn đến trễ hạn – thời hạn cuối cùng để hoàn tất giao dịch theo cam kết hợp đồng, khiến bên mua hoặc bên bán dễ bị rơi vào tình trạng vi phạm hợp đồng, mất cơ hội thương mại, hoặc thậm chí bị kiện đòi bồi thường thiệt hại.
(ii) Khó tiên liệu kết quả xử lý – rủi ro pháp lý không thể đoán định
Việc thiếu cơ chế phối hợp còn dẫn đến nguy cơ các cơ quan quản lý đưa ra kết luận trái chiều. Ví dụ:
- Sở Kế hoạch và Đầu tư chấp thuận cho nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần doanh nghiệp trong ngành nghề có điều kiện, căn cứ trên tỷ lệ sở hữu, vị trí đất đai, hoặc năng lực nhà đầu tư;
- Trong khi đó, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có thể bác bỏ giao dịch vì xác định rằng việc kết hợp thị phần sẽ làm phát sinh hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc tạo ra vị trí thống lĩnh thị trường.
Việc thiếu nhất quán trong quản lý rủi ro pháp lý và không có cơ chế “thẩm định tích hợp” sẽ buộc nhà đầu tư phải:
- Tốn thêm thời gian, chi phí tư vấn để phân tích pháp lý song song;
- Cân nhắc lại cấu trúc giao dịch;
- Và trong nhiều trường hợp, hủy bỏ thương vụ hoặc đàm phán lại toàn bộ hợp đồng, làm suy giảm niềm tin và năng lực cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam trong mắt nhà đầu tư quốc tế.
(iii) Tăng chi phí tuân thủ và làm giảm sức hấp dẫn đầu tư
Về tổng thể, sự thiếu liên kết giữa hai khung pháp lý này đã làm tăng chi phí tuân thủ đáng kể đối với các giao dịch M&A, đặc biệt là giao dịch xuyên biên giới:
- Phải chuẩn bị hồ sơ khác nhau cho mỗi cơ quan;
- Không thể sử dụng kết quả thẩm định của một cơ quan làm căn cứ tham khảo cho cơ quan còn lại;
- Gây ra sự mập mờ trong chuẩn bị hồ sơ, nhất là trong việc xác định chính xác khái niệm “kiểm soát”, “thị phần liên quan”, hay “doanh nghiệp liên kết”.
Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực cạnh tranh để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, những hạn chế như vậy khiến môi trường pháp lý bị đánh giá là kém linh hoạt, thiếu khả năng dự đoán,
Khoảng trống phối hợp giữa Luật Đầu tư và Luật Cạnh tranh là một “điểm nghẽn thể chế” điển hình trong quá trình cải cách môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Đây là biểu hiện cụ thể của việc thiếu tư duy liên ngành trong thiết kế pháp luật, khi hai cơ chế kiểm soát được xây dựng độc lập, không đối thoại với nhau và không đặt nhà đầu tư làm trung tâm.
Luật sư VCT là công ty chuyên về lĩnh vực tư vấn, thực hiện các thủ tục M&A trong và ngoài nước. Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ về M&A và các dịch vụ tư vấn khác thông qua các phương thức sau:
Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.
Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật.
Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.
Văn phòng Luật sư VCT
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.luatsuvct.com
- CSKH: info@luatsuvct.com

