ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Đặc tính cơ bản của từng loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2020
Luật sư vct – Tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp

Khi một tổ chức hoặc cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp thì tổ chức hoặc cá nhân đó cần lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của mình và quy định của pháp luật. Luật doanh nghiệp 2020 quy định bốn loại hình doanh nghiệp là: Doanh nghiệp tư nhân, công ty Hợp danh, Công ty TNHH và Công ty Cổ phần. Công ty Cổ phần (kể cả công ty đại chúng và công ty đại chúng quy mô lớn) là loại CTCP đã phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc niêm yết cổ phiếu, hoặc có số lượng cổ đông và quy mô vốn lớn. 

Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương (Tên thương mại: Luật sư VCT) sẽ giới thiệu tóm tắt đặc tính cơ bản của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2020 và trình bày các yếu tố chính liên quan đến việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để quý khách hàng có thể nắm rõ quy định và chọn lựa đăng ký thành lập cho phù hợp.

Để có thể lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp khi đăng ký thành lập, điều quan trọng là hiểu các đặc tính cơ bản của mỗi loại hình. Các đặc tính của từng loại hình doanh nghiệp sẽ được Luật sư VCT Trình bày như sau:

ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 

Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp đơn giản nhất và thường được áp dụng cho cá nhân kinh doanh ở phạm vi nhỏ, không cần huy động vốn lớn. Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một công ty làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một Doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên Công ty Hợp danh. 

Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân

Đặc điểm cơ bản của DNTN là không có tư cách pháp nhân và chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình. 

Việc phải chịu trách nhiệm vô hạn rõ ràng là một bất lợi khi chọn thành lập Doanh nghiệp tư nhân và đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt Doanh nghiệp tư nhân với Công ty TNHH và Công ty cổ phần, đặc biệt là công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng có một chủ sở hữu giống doanh nghiệp tư nhân nhưng khác với DNTN, Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã cam kết hoặc đã góp đủ.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập và quản lsy hoặc mua cổ phần hoặc phần vốn góp trong Công ty Hợp Danh, Công ty TNHH hoặc Công ty cổ phần. 

Cơ cấu tổ chức và quản lý. 

Chủ doanh nghiệp là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với hoạt động của DNTN. Doanh nghiệp tư nhân không bắt buộc phải thành lập các cơ quan quản lý nội bộ như Hội đồng thành viên của công ty TNHH hay Đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị trong Công ty cổ phần. Chủ doanh nghiệp vừa là chủ sở hữu vừa là người quản lý công ty và về cơ bản chủ doanh nghiệp có quyền quyết định bất kỳ vấn đề gì liên quan đến hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân miễn là quyết định đó không trái quy định của pháp luật. Chủ DNTN có thể thuê (tổng) giám đốc để quản lý điều hành hoạt động kinh doanh nhưng trong trường hợp này vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ DNTN phải là người đại diện theo pháp luật của DNTN. 

Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp.

Vì là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp có quyền bán DNTN mà không chịu bất kỳ hạn chế nào và các điều khoản và điều kiện của giao dịch bán hoàn toàn phụ thuộc vào thoả thuận của các bên. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày bán doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán bà chủ nợ của doanh nghiệp (nếu có) thoả thuận khác. 

Khả năng huy động vốn 

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác). Đây là hạn chế đáng kể đối với việc huy động vốn của Doanh nghiệp tư nhân khi so sánh với các loại hình doanh nghiệp khác được phát hành chứng khoán để huy động vốn như Công ty TNHH và công ty cổ phần. Luật doanh nghiệp 2020 không cấm Doanh nghiệp tư nhân huy động vốn với các hình thức khác như vay ngân hàng. 

Nghĩa vụ công bố thông tin 

Luật doanh nghiệp 2020 quy định các nghĩa vụ tối thiểu của chủ doanh nghiệp trong việc lập sổ kế toán và báo cáo tài chính. Toàn bộ vốn và tài sản của Doanh nghiệp tư nhân kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Do DNTN chỉ có một chủ sở hữu duy nhất, Doanh nghiệp tư nhân cũng không cần lập và duy trì sổ đăng ký thành viên hoặc sổ đăng ký cổ đông như trong trường hợp CTTNHH hoặc Công ty cổ phần. 

Doanh nghiệp tư nhân về cơ bản không có nghĩa vụ công bố công khai thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân chỉ có nghĩa vụ nộp một số báo cáo về tài chính và tình hình sử dụng lao động cho cơ quan cấp phép, quản lý lao động, thuế và thống kê địa phương. Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn Doanh nghiệp tư nhân thường không công bố công khai các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Thông tin của Doanh nghiệp tư nhân thường không được tiết lộ và về cơ bản bên thứ ba không biết thông tin này. 

ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY HỢP DANH 

Công ty Hợp danh là một khái niệm mới được du nhập vào Luật doanh nghiệp năm 2005 và sau đó được quy định tại Luật doanh nghiệp 2020. Thành viên của Công ty Hợp danh bao gồm (i) thành viên hợp danh (ii) thành viên góp vốn. 

Công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty và trách nhiệm của các thành viên hợp danh là trách nhiệm liên đới. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại. Ngoài thành viên hợp danh, Công ty hợp danh có thể có các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Thành viên góp vốn có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Không có giới hạn về số lượng tối đa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020. 

Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp 

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty Hợp danh rất gần với khái niệm Doanh nghiệp tư nhân ở chỗ thành viên hợp danh phải là cá nhân và có trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp. Điều khác biệt ở đây chỉ là số lượng thành viên hợp danh ở một Công ty hợp danh không chỉ hạn ở một cá nhân duy nhất như đối với Doanh nghiệp tư nhân. Điều này cho phép nhiều cá nhân cùng kinh doanh dưới một tên chung là tên chủ Doanh nghiệp tư nhân. Xét ở khía cạnh này, Công ty Hợp danh như một Doanh nghiệp tư nhân mở rộng với nhiều hơn một thành viên là chủ sở hữu. 

Theo quy định của luật Việt Nam về pháp nhân thì chủ sở hữu có trách nhiệm hữu hạn và có sự tách biệt giữa tài sản của doanh nghiệp và chủ sở hữu. Tuy nhiên, Công ty hợp danh là một trường hợp ngoại lệ vì mặc dù Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân nhưng thành viên hợp danh lại có trách nhiệm vô hạn và không có sự tách biệt giữa tài sản và thanh viên của hợp danh với tài sản của Công ty hợp danh. Ngoài ra, trách nhiệm của các thành viên hợp danh là trách nhiệm liên đới, nên một thành viên hợp danh có thể phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với các nghĩa vụ nợ của Công ty hợp danh với bên thứ ba. Ngoài các thành viên hợp danh, Công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn nhưng các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn giống như thành viên công ty TNHH và cổ đông công ty cổ phần. Trách nhiệm của thành viên hợp danh và thành viên góp vốn thể hiện tính chất lai giữa Doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn. Tóm lại, Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân nhưng không có sự phân biệt giữa tài sản giữa Công ty hợp danh và các thành viên hợp danh khi sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ nợ của Công ty hợp danh, ngoại trừ các thành viên góp vốn trong công ty Hợp danh thì tài sản của Công ty hợp danh tách biệt với tài sản các thành viên góp vốn khi sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ nợ của Công ty hợp danh. 

Cơ cấu tổ chức và quản lý.

Khác với Doanh nghiệp tư nhân, việc quản lý Công ty hợp danh không tập trung vào một cá nhân và Công ty hợp danh có điều lệ để quy định về cơ cấu quản lý Công ty hợp danh. Mỗi thành viên hợp danh có quyền quản lý Công ty hợp danh. Thành viên góp vốn không có quyền quản lý Công ty hợp danh. 

Cơ cấu tổ chức quản lý Công ty hợp danh chặt chẽ hơn so với Doanh nghiệp tư nhân nhưng tương đối đơn giản hơn so với Công ty TNHH và Công ty cổ phần. Cơ quan quản lý chính của Công ty hợp danh là hội đồng thành viên góp vốn và quyền biểu quyết trong hội đồng thành viên tập trung vào thành viên hợp danh. Hội đồng thành viên sẽ quyết định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của Công ty hợp danh, ví dụ như phương hướng phát triển công ty, sửa đổi hoặc bổ sung điều lệ, tiếp nhận thành viên hợp danh mới hay chấp nhận thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên. 

Một trong các sự khác biệt cơ bản của thành viên hợp danh và thành viên góp vốn là quyền quản lý. Về cơ bản, thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty mặc dù họ được tham gia vào hội đồng thành viên. Thành viên góp vốn chỉ có quyền biểu quyết hạn chế tại hội đồng thành viên đối với một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ, sửa đổi hoặc bổ sung điều lệ, tổ chức lại và giải thể công ty. Trong điều hành hoạt động kinh doanh Công ty hợp danh, mỗi thành viên hợp danh đều có quyền của người đại diện theo pháp luật, tổ chức điều hành hoạt động hằng ngày của công ty hợp danh và phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty. 

Một thành viên hợp danh có thể tiến hành các hoạt động nhân danh công ty nếu thành viên đó cho là có lợi nhất cho công ty mà không cần thông báo cho các thành viên khác. Thành viên hợp danh có quyền sử dụng con dấu và tài sản của công ty. Thành viên hợp danh cũng có quyền ứng trước tiền để thực hiện các hoạt động trên và sau đó yêu cầu Công ty hợp danh hoàn lại số tiền gốc và lãi theo lãi suất thị trường. Hoạt động của công ty hợp danh có thể làm phát sinh trách nhiệm nợ của Công ty hợp danh và mọi thành viên hợp danh đều phải chịu trách nhiệm liên đới mặc dù có thể một số thành viên hợp danh không biết gì về các hoạt động trên. 

Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp

Khi một thành viên hợp danh muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào khác (kể cả các thành viên hợp danh khác) thì việc chuyển nhượng này cần phải được sự chấp thuận trước của các thành viên hợp danh còn lại. Đây là quyền chấp thuận của thành viên hợp danh còn lại đối với phần vốn góp được chuyển nhượng chứ không phải là quyền ưu tiên mua đối với phần vốn được chuyển nhượng như trong trường hợp chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty TNHH. Nói cách khác, một thành viên hợp danh không buộc phải chào bán phần vốn góp của mình cho các thành viên hợp danh còn lại trước khi chào bán cho bên thứ ba mà chỉ cần xin chấp thuận của các thành viên đó. Ngoài ra, không có bất kỳ hạn chế nào đối với việc chuyển nhượng và định đoạt phần vốn góp của thành viên góp vốn tại Công ty Hợp danh. 

Sau khi chấm dứt tư cách thành viên, nếu tên của thành viên bị chấm dứt được sử dụng làm thành một phần hoặc toàn bộ tên Công ty hợp danh thì thành viên hợp danh (hoặc người thừa kế hoặc người đại diện của thành viên đó) có quyền yêu cầu Công ty hợp danh chấm dứt việc sử dụng tên đó. Trong trường hợp này, Công ty hợp danh có thể bị giải thể (và thành lập Công ty hợp danh mới) hoặc đổi lại tên để tiếp tục hoạt động. Đứng từ góc độ duy trì hoạt động liên tục của doanh nghiệp, đây là một nhân tố bất ổn ảnh hưởng đến tính liên tục trong hoạt động của công ty hợp danh khi một thành viên hợp danh bị chấm dứt tư cách thành viên. 

Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh, thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ nợ của công ty đã phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên. Tuy nhiên, hạn chế này chỉ áp dụng trong trường hợp thành viên hợp danh chấm dứt tư cách do tự nguyện rút vốn hoặc do bị khai trừ. 

Khả năng huy động vốn.

Công ty hợp danh không được phép phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác). Đây là một hạn chế đáng kể đối với việc huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng khoán của CTHD khi so sánh với các loại hình doanh nghiệp khác được phát hành chứng khoán như Công ty TNHH và Công ty cổ phần. Luật doanh nghiệp năm 2020 không cấm Công ty hợp danh huy động vốn dưới các hình thức khác như vay ngân hàng. 

Nghĩa vụ công bố thông tin

Cũng giống như Doanh nghiệp tư nhân, luật doanh nghiệp 2020 quy định các nghĩa vụ tối thiểu của Công ty hợp danh (thông qua chủ tịch hội đồng thành viên hoặc (tổng) giám đốc) trong việc lập sổ kế toán và báo cáo tài chính. Sổ kế toán và báo cáo tài chính của Công ty hợp danh phải được tổ chức sắp xếp, lưu trữ đầy đủ và trung thực” theo quy định của pháp luật. Công ty hợp danh không có nghĩa vụ lập và duy trì sổ đăng ký thành viên như trong trường hợp Công ty TNHH hoặc Công ty cổ phần. 

Công ty Hợp danh về cơ bản không có nghĩa vụ công bố công khai thông tin liên quan đến hoạt động của công ty. Công ty hợp danh chỉ có nghĩa vụ nộp một số báo cáo về tài chính và tình hình sử dụng lao động cho cơ quan cấp phép, quản lý lao động, thuế và thống kê địa phương. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn Công ty hợp danh thường không công bố công khai các thông tin về hoạt động của công ty. Thông tin của thành viên và hoạt động của Công ty hợp danh không được tiết lộ và về cơ bản bên thứ ba không biết về thông tin này. 

ĐẶC TÍNH CỦA CÔNG TY TNHH

Cùng với Công ty cổ phần, Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp cơ bản và phổ biến nhất hiện nay, Phụ thuộc vào số lượng thành viên là chủ sở hữu công ty, Công ty TNHH gồm hai hình thức là (i) Công ty TNHH một thành viên và (ii) Công ty TNHH hai thành viên trở lên. Công ty TNHH có thể do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (trong trường hợp Công ty TNHH một thành viên) hoặc do nhiều tổ chức và cá nhân làm chủ sở hữu nhưng không vượt quán năm mươi chủ sở hữu (trong trường hợp công ty TNHH hai thành viên trở lên). Thành viên chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp đủ vào doanh nghiệp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty. 

Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp 

Công ty Trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Với việc Công ty TNHH có tư cách pháp nhân, thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ nợ của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty mà họ đã cam kết góp hoặc đã góp đủ. Nói cách khác, nếu thành viên đã cam kết góp vốn đủ theo cam kết thì thành viên không còn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ nợ của công ty. Đây cũng là một ưu điểm quan trọng của Công ty TNHH một thành viên so với Doanh nghiệp tư nhân. Nếu cá nhân xem xét lựa chọn giữa Doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH một thành viên thì cá nhân có thể lựa chọn Công ty TNHH Một thành viên thay vì Doanh nghiệp tư nhân. Lý do là, Chủ sở hữu công ty TNHH Một thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong khi Doanh nghiệp tư nhân lại chịu trách nhiệm vô hạn. 

Cơ cấu tổ chức quản lý 

Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH tương đối phức tạp hơn so với Doanh nghiệp tư nhân và Công ty Hợp danh, mặc dù chưa phức tạp bằng công ty cổ phần. Cơ quan quản lý cơ bản của Công ty TNHH là Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc tổng giám đốc. Loại hình công ty TNHH Một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu được tổ chức quản lý và hoạt động một trong hai mô hình sau đây: (i) Chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc. (ii) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. 

Công ty TNHHH Một thành viên nếu chủ sở hữu là doanh nghiệp nhà nước và Công ty TNHH Hai thành viên trở lên nếu thành viên góp vốn là doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 50% vốn điều lệ trở lên thì buộc phải có Ban kiểm soát. 

Hội đồng thành viên là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty TNHH, bao gồm tất cả các thành viên góp vốn là cá nhân và những người đại diện theo uỷ quyền của thành viên góp vốn là tổ chức. 

Mỗi thành viên trong Hội đồng thành viên có quyền biểu quyết tương ứng với phần vốn góp của mình tại Công ty TNHH. Hội đồng thành viên quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động của Công ty TNHH, Ví dụ như những vấn đề mang tính chiến lược về định hướng phát triển công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, tổ chức lại hoặc giải thể doanh nghiệp; bổ nhiệm, bãi nhiệm (tổng) giám đốc và các chức danh quản lý khác trong công ty. 

Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp. 

Chủ sở hữu của Công ty TNHH Một thành viên có toàn quyền chuyển nhượng và định đoạt toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của Công ty TNHH Một thành viên. Trong trường hợp chuyển nhượng một phần vốn góp, Công ty TNHH Một thành viên phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang Công ty TNHH Hai thành viên hoặc Cổ phần. 

Khi một thành viên của Công ty TNHH Hai thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình thì thành viên đó phải chào bán trước phần vốn đó cho các thành viên  còn lại. Các thành viên còn lại có quyền ưu tiên mua trong vòng 30 ngày kể từ ngày chào bán và sau đó nếu các thành viên còn lại không mua, thành viên đó có quyền chuyển nhượng cho bên thứ ba với cùng điều khoản và điều kiện đã chào bán cho các thành viên còn lại. 

Việc một thành viên trong CT TNHH chấm dứt tư cách cách thành viên không làm ảnh hưởng đến Công ty TNHH hoặc tên của CTTNHH. 

Khả năng huy động vốn 

Công ty TNHH có quyền tăng vốn điều lệ thông qua việc nhận thêm thành viên góp vốn mới hoặc tăng vốn góp của các thành viên hiện hữu. Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phần. Không có cơ sở pháp lý rõ ràng theo luật hiện hành cho phép Công ty TNHH phát hành trái phiếu chuyển đổi và các loại chứng khoán khác như quyền chọn mua và chuyển chọn bán. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành quy định rất rõ CTTNHH được phép phát hành trái phiếu thường (không có đặc tính chuyển đổi thành vốn góp) nếu đáp ứng một số điều kiện theo Luật định. 

Khả năng phát hành trái phiếu thường để huy động vốn là một đặc tính khác biệt cơ bản giữa CTTNHH với DNTN và CTHD. Tuy nhiên, khả năng huy động vốn của CTTNHH hạn chế hơn so với Công ty Cổ phần vì CTCP được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. 

Nghĩa vụ công bố thông tin

Công ty TNHH phải lập báo cáo tài chính và báo cáo tài chính hàng năm phải được chủ sở hữu hoặc hội đồng thành viên thông qua. Ngoài ra, Công ty TNHH có nghĩa vụ nộp một số báo cáo về hoạt động kinh doanh, tài chính và tình hình sử dụng lao động cho cơ quan cấp phép, quản lý lao động, thuế và thống kê địa phương. Cũng như trong trường hợp DNTN và CTHD, các thông tin này phần lớn trường hợp không được công bố công khai. Do vậy, thông tin của thành viên và hoạt động của CTTNHH được giữ bí mật và không có bên thứ ba biết về thông tin này. Công ty TNHH Không phải thực hiện nghĩa vụ Công bố thông tin như Công ty Đại chúng. 

Công ty TNHH có trách nhiệm lập sổ đăng ký thành viên sau khi Công ty TNHH được thành lập và phát hành giấy chứng nhận phần vốn góp cho các thành viên góp vốn khi các thành viên góp vốn này góp đủ số vốn. Sổ đăng ký thành viên phải có một số thông tin tối thiểu theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020. Công ty TNHH Một thành viên không bắt buộc phải thành lập sổ đăng ký thành viên và phát hành giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên góp vốn. 

ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp cơ bản và phổ biến nhất đối với doanh nghiệp có quy mô lớn. Công ty cổ phần phải có ít nhất ba cổ đông và không có giới hạn về số lượng tối đa của cổ đông. Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất ba cổ đông sáng lập; Công ty cổ phần không nhất thiết phải có cổ đông sáng lập nếu được chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước hoặc từ CTTNHH. Cổ đông chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ nợ của Công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty hoặc số vốn cam kết góp khi thành lập công ty. 

Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp. 

Cũng giống như Công ty TNHHH, Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ nợ của công ty trong phạm vi số vốn mà họ đã cam kết góp hoặc số vốn cam kết góp khi thành lập công ty. Nói cách khác, nếu cổ đông đã góp vốn đủ thì cổ đông không còn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ nợ của công ty. Nếu một cổ đông chưa góp đủ số cổ phần đăng ký mua thì nghĩa vụ của Cổ đông đó cũng chỉ giới hạn ở phần vốn cam kết chưa góp. Đây cũng là một ưu điểm quan trọng của Công ty cổ phần giống như Công ty TNHH. 

Cơ cấu tổ chức và quản lý

Công ty cổ phần có cơ cấu quản lý phức tạp và hoàn chỉnh nhất so với các loại hình doanh nghiệp khác. Công ty cổ phần có quyền lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động theo hai mô hình cơ bản sau đây: (i) Mô hình thứ nhất gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát. 

(ii) Mô hình thứ hai gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có uỷ ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Uỷ ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của uỷ ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành. 

Cơ quan quản lý cao nhất của Công ty cổ phần là Đại hội cổ đông. Đại hội cổ đông bao gồm tất cả các cổ đông là tổ chức và cá nhân và là cơ quan quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động của Công ty cổ phần. Ví dụ như định hướng phát triển kinh doanh, sửa đổi hoặc bổ sung Điều lệ, phát hành cổ phần hay tổ chức lại hoặc giải thể công ty cổ phần. Đại hội cổ đông có thẩm quyền bầu hoặc bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và ban kiểm soát. 

Nếu Điều lệ công ty không quy định khác, việc biểu quyết bầu thành viên hội đồng quản trị và thành viên ban kiểm soát phải được thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu. 

Hội đồng quản trị có thẩm quyền quyết định các vấn đề còn lại không thuộc thẩm quyền của đại hội cổ đông, có nghĩa là các vấn đề có tính chất kém quan trong hơn các vấn đề cần có quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có quyền bổ nhiệm hoặc cách chức (tổng) giám đốc và các chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. 

Ban kiểm soát chủ yếu có thẩm quyền giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị và ban Điều hành. Ban kiểm soát có thể đưa ra kiến nghị để đại hội cổ đông xem xét và quyết định. Ban kiểm soát tuy nhiên không có thẩm quyền đưa ra bất kỳ quyết định nào về hoạt động của công ty như hội đồng quản trị. Trong trường hợp công ty cổ phần không có ban kiểm soát, ban kiểm toán nội bộ và các thành viên độc lập của hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát giống như ban kiểm soát. 

Pháp luật về chứng khoán có quy định riêng về tổ chức và quản lý của công ty đại chúng, đặc biệt là về cơ cấu hội đồng quản trị và ban kiểm soát cũng như tiêu chuẩn thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát. 

Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp 

Cổ đông của Công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình và không phụ thuộc vào bất kỳ hạn chế chuyển nhượng cổ phần nào trừ hai trường hợp áp dụng đối với cổ đông sáng lập nắm giữ cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết. Cụ thể là trong 03 năm đầu kể từ khi thành lập Công ty cổ phần, cổ đông sáng lập không được phép chuyển nhượng cổ phần phổ thông đăng ký mua tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp cho tổ chức hoặc cá nhân không phải là cổ đông sáng lập trừ khi được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. 

Ngoài ra, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ đó cho tổ chức hoặc cá nhân khác (kể cả chuyển nhượng cho cổ đông khác trong cùng Công ty cổ phần)

Việc một cổ đông Công ty cổ phần chấm dứt tư cách cổ đông (ví dụ: Do việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình) không ảnh hưởng đến Công ty cổ phần hoặc tên của Công ty cổ phần. Công ty cổ phần vẫn tiếp tục hoạt động bình thường. 

Khả năng huy động vốn 

Công ty cổ phần được phép phát hành các loại chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác). Đây là một trong những đặc tính cơ bản để phân biệt Công ty cổ phần với các loại hình doanh nghiệp khác. Về cơ bản, không có hạn chế trong việc Công ty cổ phần phát hành chứng khoán ở trong nước và nước ngoài miễn là Công ty cổ phần đáp ứng các điều kiện và yêu cầu về phát hành chứng khoán theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ công bố thông tin 

Công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng về cơ bản không có nghĩa vụ công bố công khai thông tin đáng kể liên quan đến hoạt động của công ty. Công ty cổ phần phải lập báo cáo tài chính và báo cáo tài chính hàng năm phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua và phải gửi cho các cổ đông một báo cáo tóm tắt về báo cáo tài chính hàng năm. Ngoài ra, Công ty cổ phần có nghĩa vụ nộp một số báo cáo về tài chính và tình hình sử dụng lao động cho cơ quan cấp phép, quản lý lao động, thuế và thống kê địa phương. Ngoài các nghĩa vụ nộp báo cáo bắt buộc, Công ty cổ phần này không buộc công bố công khai thông tin như Công ty cổ phần đại chúng. Do vậy, thông tin của cổ đông và hoạt động của Công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng thường không được tiết lộ và về cơ bản bên thứ ba không biết về thông tin này. 

Các quy định của luật doanh nghiệp năm 2020 đã nâng cao quy định về công bố thông tin áp dụng cho công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng. Nếu công ty cổ phần có trang thông tin điện tử, Công ty cổ phần phải công bố trên trang thông tin điện tử một số thông tin bắt buộc, bao gồm (i) Điều lệ công ty, (ii) Thông tin về thành viên Hội đồng quản trị, kiểm soát viên và (tổng) giám đốc, (iii) Báo cáo tài chính hằng năm và (iv) báo cáo đánh giá kết quả hoạt động hàng năm của hội đồng quản trị và ban kiểm soát. Công ty cổ phần cũng có nghĩa vụ đăng ký hoặc thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh trong một số trường hơp, Ví dụ như có thay đổi thông tin về cổ đông nước ngoài và thay đổi thông tin về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. 

Công ty cổ phần có nghĩa cụ lập và duy trì sổ đăng ký cổ đông sau khi Công ty cổ phần được thành lập và tổ chức hoặc cá nhân được coi là cổ đông của Công ty cổ phần khi thông tin của họ được ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông. 

DỊCH VỤ LUẬT SƯ VCT

Luật Sư VCT (Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương) là một Công ty Luật chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến lĩnh vực tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn thành lập doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn đầu tư. 

Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ tư vấn liên quan đến doanh nghiệp và các dịch vụ tư vấn khác. 

Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.

Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương (Luật sư VCT) thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. 

Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương (Luật sư VCT) tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải. 

Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề “ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA TỪNG LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2020”.  mà Luật sư VCT muốn gửi đến quý khách hàng. Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40  hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách. 

Trân trọng.

 

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com