GIAO DỊCH GIỮA CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ NGƯỜI CÓ LIÊN QUAN

Trong hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt là đối với công ty cổ phần, giao dịch giữa công ty và người có liên quan không phải là hiện tượng hiếm gặp. Tuy nhiên, chính mối quan hệ lợi ích chồng chéo giữa các bên lại là nguyên nhân phát sinh rủi ro đạo đức và pháp lý, nếu không được kiểm soát bởi cơ chế phê duyệt độc lập và minh bạch. Bài viết sau Luật sư VCT sẽ phân tích rõ hơn về vấn đề này.

1. Khái niệm về Người có liên quan

Theo quy định tại khoản 23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, “người có liên quan” là cá nhân hoặc tổ chức có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp, có thể ảnh hưởng hoặc chi phối đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong các khía cạnh quản trị, tài chính hoặc giao dịch. Cụ thể gồm:

  • Các chủ thể có mối quan hệ sở hữu hoặc quản lý trực tiếp, như công ty mẹ, công ty con, người quản lý doanh nghiệp, đại diện theo pháp luật, kiểm soát viên, hoặc người có quyền bổ nhiệm các chức danh này;
  • Nhóm cá nhân, tổ chức có ảnh hưởng chi phối, thông qua quyền biểu quyết, sở hữu cổ phần hoặc vốn góp lớn, hoặc thông qua thỏa thuận thâu tóm, kiểm soát;
  • Những người có mối quan hệ gia đình gần gũi với các chức danh quản lý, như vợ/chồng, cha mẹ, con, anh chị em ruột, dâu/rể…;
  • Các cá nhân là người đại diện theo ủy quyền của những chủ thể nói trên;
  • Doanh nghiệp mà các chủ thể nói trên có quyền chi phối hoạt động hoặc quyết định tài chính.

Tại bản án số 17/2015/KDTM-PT ngày 08/9/2015 của Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố H về tranh chấp thành viên của công ty: Giữa các nguyên đơn bà Đoàn Thị N, Bùi Thị G, Mai Thị Đ khởi kiện ông Vũ Văn T – Chủ tịch HĐQT, Giám đốc công ty cổ phần An T để yêu cầu Tuyên “Hợp đồng thuê tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuê” giữa công ty T và Công ty D là vô hiệu theo quy định tại khoản 4 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2005, Điều 45 Luật Công chứng năm 2006.

Toà án cấp phúc thẩm đã nhận định “…việc ông Vũ Văn T1 là giám đốc Công ty đã ký hợp đồng thuê Văn phòng của Công ty với Công ty D trong khi con trai ông T là Vũ Văn T1 là cổ đông của Công ty D có tỷ lệ vốn góp 45%, đồng thời là Chủ tịch HĐQT của Công ty D cũng như giá trị Hợp đồng cho thuê đất giữa Công ty T và Công ty D lớn hơn vốn điều lệ của công ty nên phải được ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận và ông Vũ Văn T phải công khai các lợi ích liên quan…”

Tòa án cấp phúc thẩm nhận định rõ: việc ông T – người đại diện theo pháp luật – tự ý ký hợp đồng với công ty do con trai mình làm chủ tịch HĐQT. điểm pháp lý phức tạp nằm ở chỗ: Luật Doanh nghiệp năm 2005 không định nghĩa cụ thể thế nào là “người có liên quan”, cũng không liệt kê rõ các mối quan hệ huyết thống như cha – con, vợ – chồng… vào phạm vi điều chỉnh. Khoản 17 Điều 4 Luật này chỉ mô tả một cách khái quát rằng “người có liên quan là tổ chức, cá nhân có quan hệ sở hữu, quản lý hoặc chi phối lẫn nhau”. Vì thiếu quy định cụ thể, việc áp dụng pháp luật trong vụ việc này gặp trở ngại, tạo dư địa cho tranh luận pháp lý về việc ông T có bắt buộc phải công khai lợi ích liên quan không, và giao dịch có thuộc loại “giao dịch với người có liên quan” cần phê duyệt hay không.

Chính sự thiếu rõ ràng đó đã dẫn đến tình trạng “chân trong, chân ngoài” trong xác định tư cách người có liên quan, làm suy yếu hiệu quả giám sát và gây nguy cơ xung đột lợi ích trong công ty.

Hiện nay,  Luật Doanh nghiệp 2020 đã định nghĩa rõ ràng hơn về “người có liên quan” tại khoản 23 Điều 4. Theo đó, các mối quan hệ huyết thống như vợ, chồng, cha mẹ, con, anh chị em ruột của thành viên HĐQT, Giám đốc, Tổng giám đốc, Kiểm soát viên, và cả cổ đông sở hữu cổ phần chi phối đều được xác định là “người có liên quan”. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn điều hành doanh nghiệp, vì:

  • Tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để kiểm soát xung đột lợi ích.
  • Tránh tình trạng hợp thức hóa giao dịch thiếu minh bạch thông qua người thân hoặc công ty “sân sau”.
  • Nâng cao trách nhiệm công bố thông tin và bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số.

.Việc xác định chính xác và đầy đủ “người có liên quan” theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 là nền tảng quan trọng để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hợp pháp trong các giao dịch nội bộ của doanh nghiệp. Khái niệm này không chỉ giúp kiểm soát xung đột lợi ích mà còn củng cố cơ chế giám sát của cổ đông, đặc biệt là trong các công ty cổ phần có nhiều thành viên và giao dịch phức tạp.

2. Hợp đồng, giao dịch của công ty với Người có liên quan có hiệu lực khi nào?

Điều 167 quy định cơ chế kiểm soát giao dịch với người có liên quan nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích trong nội bộ công ty cổ phần. Giao dịch này phải được chấp thuận bởi HĐQT hoặc ĐHĐCĐ tùy theo giá trị và đối tượng, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt về thủ tục, công khai minh bạch và loại trừ quyền biểu quyết của bên có lợi ích liên quan. Nếu vi phạm, giao dịch có thể bị vô hiệu và các bên liên quan phải chịu trách nhiệm dân sự.

Hợp đồng, giao dịch giữa công ty và người có liên quan phải được Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) hoặc Hội đồng quản trị (HĐQT) chấp thuận nếu liên quan đến:

  • Cổ đông hoặc người đại diện cổ đông là tổ chức sở hữu trên 10% cổ phần phổ thông và người có liên quan của họ;
  • Thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;
  • Doanh nghiệp mà các chức danh quản lý của công ty có lợi ích hoặc phải kê khai theo Điều 164.

Cụ thể, đối với các giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng tài sản công ty (theo báo cáo tài chính gần nhất hoặc theo ngưỡng thấp hơn do Điều lệ quy định), HĐQT là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trong trường hợp này, người ký hợp đồng phải thông báo đầy đủ về đối tượng có liên quan, đồng thời gửi dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch cho HĐQT và Kiểm soát viên. HĐQT có trách nhiệm ra quyết định trong thời hạn 15 ngày, trừ khi Điều lệ có quy định khác, và các thành viên HĐQT có lợi ích liên quan không được tham gia biểu quyết.

Ví dụ: Hợp đồng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị

Công ty Cổ phần A có tổng tài sản theo báo cáo tài chính gần nhất là 100 tỷ đồng. Giám đốc công ty A là ông Nguyễn Văn B, một thành viên Hội đồng quản trị. Ông A đề xuất ký hợp đồng mua nguyên vật liệu trị giá 25 tỷ đồng với Công ty TNHH XYZ – nơi vợ ông A làm giám đốc.

Vì giao dịch này có liên quan đến người có liên quan của Giám đốc và giá trị giao dịch dưới 35% tổng tài sản (tức dưới 35 tỷ đồng), nên thuộc thẩm quyền phê duyệt của Hội đồng quản trị theo khoản 2 Điều 167.

Khi đó:

  • Ông A phải thông báo rõ về mối quan hệ liên quan và gửi dự thảo hợp đồng cho Hội đồng quản trị và Kiểm soát viên.
  • Hội đồng quản trị phải ra quyết định trong vòng 15 ngày hoặc theo thời hạn khác do Điều lệ quy định.

Đối với các giao dịch có giá trị lớn hơn hoặc mang tính chất đặc biệt – như các hợp đồng vay, cho vay, mua bán tài sản có giá trị từ 10% tổng tài sản trở lên với cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 51% cổ phần có quyền biểu quyết, hoặc các giao dịch nằm ngoài thẩm quyền quyết định của HĐQT – thì thẩm quyền phê duyệt thuộc về ĐHĐCĐ. Trong trường hợp này, người đề xuất giao dịch có trách nhiệm gửi thông báo kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc các nội dung chính cho HĐQT và Kiểm soát viên. Sau đó, HĐQT sẽ trình nội dung này ra ĐHĐCĐ hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Các cổ đông có lợi ích liên quan trong giao dịch không được quyền biểu quyết. Hợp đồng, giao dịch chỉ có hiệu lực khi được chấp thuận đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 148 của Luật Doanh nghiệp, trừ khi Điều lệ có quy định khác.

Ví dụ: Hợp đồng thuộc thẩm quyền phê duyệt của Đại hội đồng cổ đông

Công ty Cổ phần XYZ có:

  • Tổng tài sản theo báo cáo tài chính gần nhất là 120 tỷ đồng.
  • Cổ đông bà Nguyễn Thị H sở hữu 55% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.
  • Chồng bà H là ông Trần Văn M – Giám đốc Công ty TNHH ABC.

Công ty XYZ dự kiến bán một lô đất trị giá 20 tỷ đồng cho Công ty TNHH ABC. Vì giao dịch này:

  • Có giá trị lớn hơn 10% tổng giá trị tài sản (10% x 120 tỷ = 12 tỷ → 20 tỷ > 12 tỷ),
  • Và thực hiện giữa công ty và người có liên quan của cổ đông lớn (ông M là chồng của bà H – người sở hữu 55% cổ phần),

Đáng lưu ý, pháp luật dùng “tổng giá trị tài sản theo báo cáo tài chính gần nhất” làm căn cứ xác định giá trị giao dịch, không phải vốn điều lệ. Vốn điều lệ là một khái niệm có ý nghĩa quan trọng khi thành lập và mục đích chủ yếu để xác định nghĩa vụ góp vốn của cổ đông. Trong một chừng mực nào đó, vốn điều lệ mang tính quản lý hành chính. Nhìn từ góc độ vận hành doanh nghiệp với nguồn vốn ban đầu, doanh nghiệp dùng vào hoạt động, giá trị tài sản công ty có thể tăng lên rất nhiều hoặc sụt giảm đi so với vốn điều lệ. Tại bản án số 17/2015/KDTM-PT, Tòa án cấp phúc thẩm đã sai khi lấy vốn điều lệ làm căn cứ so sánh giá trị giao dịch. Việc nhầm lẫn này dẫn đến xác định sai thẩm quyền phê duyệt, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng.

Trong trường hợp không tuân thủ đúng thủ tục phê duyệt, hợp đồng hoặc giao dịch giữa công ty và người có liên quan có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu nếu phát sinh tranh chấp. Khi đó, cá nhân có liên quan – bao gồm người ký kết hợp đồng, thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc – sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và hoàn trả mọi lợi ích thu được từ giao dịch đó cho công ty. Đồng thời, công ty có nghĩa vụ công khai các thông tin về hợp đồng, giao dịch với người có liên quan theo quy định của pháp luật, bao gồm việc công bố trên cổng thông tin doanh nghiệp và trong báo cáo tài chính hằng năm. Đây là cơ chế kiểm soát quan trọng nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong quản trị doanh nghiệp và ngăn ngừa hành vi trục lợi nội bộ.

3. Một số điểm cần lưu ý để kiểm soát và minh bạch hóa giao dịch với người có liên quan.

Giao dịch với người có liên quan luôn tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích, lạm dụng quyền lực hoặc gây tổn hại cho doanh nghiệp và cổ đông thiểu số. Vì vậy, để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật, các doanh nghiệp – đặc biệt là công ty cổ phần – cần xây dựng và thực thi các nguyên tắc quản trị chặt chẽ như sau:

a. Xác định và cập nhật đầy đủ danh sách “người có liên quan”

Việc nhận diện người có liên quan là bước đầu tiên và mang tính nền tảng trong quản lý rủi ro của các giao dịch nội bộ. Doanh nghiệp cần áp dụng đúng định nghĩa pháp lý tại khoản 23 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, theo đó, người có liên quan bao gồm cá nhân có quan hệ huyết thống như cha mẹ, con cái, vợ/chồng; các pháp nhân trong cùng nhóm lợi ích; cũng như các tổ chức mà cá nhân quản lý doanh nghiệp có quyền chi phối thông qua sở hữu vốn. Đồng thời, doanh nghiệp cần đối chiếu thêm với quy định trong Điều lệ công ty để không bỏ sót các trường hợp được mở rộng theo nhu cầu quản trị nội bộ. Danh sách người có liên quan cần được cập nhật thường xuyên khi có biến động về nhân sự cấp cao như thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, cổ đông lớn, hoặc các thay đổi về sở hữu có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ liên quan. Bên cạnh đó, thông tin này phải được phổ biến định kỳ tới các bộ phận như pháp chế, tài chính, kế toán và kiểm soát nội bộ nhằm phục vụ việc thẩm định tính độc lập của các giao dịch. Đối với công ty đại chúng, việc công khai danh sách người có liên quan theo quy định của Luật Chứng khoán và các quy chế công bố thông tin là bắt buộc, nhằm tạo điều kiện cho cổ đông và thị trường thực hiện giám sát một cách minh bạch và hiệu quả.

b. Tuân thủ quy trình phê duyệt độc lập và đúng thẩm quyền

Đây là điều kiện bắt buộc để đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý của giao dịch với người có liên quan. Trước hết, người có lợi ích liên quan đến giao dịch phải bị loại trừ khỏi việc tham gia biểu quyết trong quá trình thông qua tại Hội đồng quản trị (HĐQT) hoặc Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), nhằm đảm bảo nguyên tắc khách quan và phòng ngừa xung đột lợi ích. Tiếp theo, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt giao dịch cần được xác định rõ ràng dựa trên giá trị và tính chất của giao dịch, theo quy định tại Điều 162 và Điều 167 Luật Doanh nghiệp 2020. Trong mọi trường hợp, hồ sơ giao dịch cần được chuẩn bị đầy đủ và cung cấp trước khi biểu quyết, bao gồm dự thảo hợp đồng, phân tích rủi ro, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cùng với đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, để các thành viên HĐQT hoặc cổ đông có cơ sở đưa ra quyết định minh bạch, chính xác và phù hợp với lợi ích chung

c. Định giá khách quan và hợp lý

Để tránh tình trạng “bán rẻ, mua đắt”, doanh nghiệp cần ưu tiên sử dụng giá tham chiếu hoặc giá thị trường làm cơ sở định giá – có thể là giá từ các giao dịch tương tự, giá khởi điểm trong đấu giá công khai, hoặc mức giá phổ biến trên thị trường cạnh tranh. Trong các trường hợp giao dịch có giá trị lớn hoặc tiềm ẩn rủi ro xung đột lợi ích, việc thuê tổ chức định giá độc lập là cần thiết để bảo đảm tính khách quan, đồng thời nâng cao mức độ tin cậy và minh bạch trong quá trình ra quyết định. Ngoài ra, toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc định giá, biên bản thương thảo, báo cáo phân tích và đánh giá rủi ro cần được lưu trữ đầy đủ, nhằm phục vụ kiểm toán, thanh tra hoặc làm chứng cứ nếu phát sinh tranh chấp trong tương lai.

d. Công bố thông tin đầy đủ, rõ ràng và đúng hạn

Theo quy định pháp luật, doanh nghiệp phải công bố cụ thể danh tính bên liên quan, bản chất mối quan hệ, giá trị và điều kiện giao dịch, cơ quan phê duyệt cũng như thời điểm thực hiện hợp đồng. Việc công bố không được chậm trễ, phải tuân thủ đúng thời hạn mà Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn quy định. Nếu công bố thông tin không đầy đủ, không trung thực hoặc chậm trễ, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính, bị truy cứu trách nhiệm và thậm chí dẫn đến nguy cơ giao dịch bị tuyên vô hiệu. Tùy theo loại hình và quy mô doanh nghiệp, việc công bố thông tin cần được thực hiện qua các phương tiện phù hợp như: cổng thông tin điện tử của công ty, hệ thống công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (đối với công ty niêm yết), hoặc qua báo cáo tài chính gửi cơ quan thuế, kiểm toán, cổ đông để bảo đảm khả năng tiếp cận và giám sát.

e. Tăng cường giám sát nội bộ và kiểm tra độc lập

Do đặc thù các giao dịch này thường tiềm ẩn xung đột lợi ích, doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế giám sát nhiều tầng và không phụ thuộc vào một cá nhân hay bộ phận cụ thể. Đặc biệt, để thúc đẩy văn hóa tuân thủ và bảo vệ lợi ích của cổ đông thiểu số, doanh nghiệp nên thiết lập cơ chế báo cáo vi phạm ẩn danh (whistleblowing) – cho phép người lao động, cổ đông hoặc bên thứ ba phản ánh các giao dịch mờ ám mà không sợ bị trả đũa. Hệ thống này không chỉ là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu mà còn là minh chứng cho cam kết của doanh nghiệp đối với nguyên tắc minh bạch và quản trị công ty hiện đại.

Giao dịch với người có liên quan là điểm nhạy cảm trong quản trị doanh nghiệp, đặc biệt trong các công ty cổ phần có cấu trúc sở hữu chồng chéo. Pháp luật doanh nghiệp hiện hành đã tiến một bước dài trong việc quy định rõ ràng khái niệm, thẩm quyền và trình tự xử lý giao dịch liên quan.

Tuy nhiên, việc áp dụng trên thực tế vẫn cần sự cẩn trọng, đặc biệt là ở khía cạnh xác định đúng mối quan hệ, căn cứ pháp lý và giá trị giao dịch. Sai lầm trong đánh giá có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu, thiệt hại cho công ty và tranh chấp kéo dài giữa các cổ đông. Vì vậy, tuân thủ nghiêm quy định, kết hợp với quản trị tốt và công bố minh bạch chính là chìa khóa để bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp và cổ đông một cách bền vững.

Trên đây là bài phân tích của Luật sư VCT về Giao dịch của công ty và người liên quan. 

 Quý khách có nhu cầu tư vấn cụ thể về vụ việc, tranh chấp trong nội bộ công ty, hoặc các vấn đề pháp lý liên quan đến quản trị doanh nghiệp, xin vui lòng liên hệ với Luật sư V.C.T để được hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.

Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ. 

Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật về đất đai của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com.Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. 

Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải. T

Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40 hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách.

 

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com