Vốn góp chỉ tồn tại trên giấy là hành vi vi phạm nguyên tắc trung thực trong góp vốn quy định tại Luật Doanh nghiệp, làm sai lệch cơ cấu vốn điều lệ và tiềm ẩn rủi ro pháp lý nghiêm trọng. Khi nguồn vốn thực không đáp ứng được yêu cầu hoạt động, doanh nghiệp dễ rơi vào vòng xoáy nợ nần, vi phạm nghĩa vụ góp vốn và đối mặt với nguy cơ bị xử lý trách nhiệm dân sự, hành chính, thậm chí hình sự. Trong bối cảnh đó, Luật sư VCT sẽ bình luận bản án số 11/2025/KDTM-PT ngày 19 tháng 06 năm 2025 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần” để phân tích một số khía cạnh pháp lý liên quan.
I. Tóm tắt bản án
1. Đương sự
- Nguyên đơn: bà Lê Thị H
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quang H2; Công ty cổ phần T4 – người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Quang H2 (Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang M; Công ty TNHH MTV S1 – người đại diện theo pháp luật là ông Lê Thanh L (Giám đốc); Ông Đỗ Đình T2; Bà Đoàn Thị Thuý H3; Bà Võ Thị L1; Bà Mai Thị L2; Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Q – đại diện: ông Nguyễn Văn H4
2. Tóm tắt vụ án
Công ty T4 thành lập năm 2016 với 3 cổ đông sáng lập:
- Ông Nguyễn Quang H2: 45%
- Bà Võ Thị L1: 45%
- Bà Mai Thị L2: 10%
Vốn điều lệ ban đầu 30 tỷ đồng, sau tăng lên 120 tỷ vào năm 2017.
Có nhiều hợp đồng chuyển nhượng cổ phần vào năm 2020 (tháng 5, 6, 11) liên quan đến ông H2, bà Lê Thị H, ông Nguyễn Quang M và một số người khác. Các hợp đồng này đều có dấu hiệu chỉ lập trên giấy, không thực hiện giao nhận tiền hoặc không đủ điều kiện pháp lý để chuyển nhượng hợp lệ.
Tranh chấp xoay quanh việc ai thực sự là cổ đông hợp pháp và hiệu lực các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần.
3. Phán Quyết của Tòa cấp sơ thẩm
Bản án sơ thẩm số 01/2023/KDTM-ST ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H tuyên xử:
- Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 01/5/2020 giữa ông Nguyễn Quang H2 với bà Lê Thị H có hiệu lực đối với 1.932.620 cổ phần (19,3262 tỷ đồng, chiếm 16,1% vốn điều lệ 120 tỷ).
- Tuyên vô hiệu phần chuyển nhượng vượt quá quyền sở hữu của ông H2: 827.380 cổ phần (8,2738 tỷ đồng, chiếm 6,9% vốn điều lệ). Các bên tự thương lượng về hậu quả; nếu không được thì khởi kiện vụ khác.
- Buộc Công ty T4 ghi nhận bà Lê Thị H là cổ đông sở hữu 1.932.620 cổ phần.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà H đối với ông Nguyễn Quang M.
Ngày 12/3/2024, ông Nguyễn Quang H2 và Công ty T4 kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị Tòa phúc thẩm bác yêu cầu của bà H.
4. Phán Quyết của Tòa cấp phúc thẩm
Bản án phúc thẩm số: 13/2024/KDTM-PT ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Nhận định: Tòa sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định chưa đúng tư cách đương sự, không đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào vụ án và thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
Quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 BLTTDS, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Quang H2 và Công ty T4.
- Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 27/02/2024 của TAND tỉnh Quảng Bình.
- Chuyển hồ sơ cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
II. Bình Luận bản án
Trong phạm vi bài phân tích này, Luật sư VCT phân tích giới hạn trong phạm vi công ty cổ phần
Thứ nhất, thời điểm ghi nhận tư cách cổ đông
Theo khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Nói cách khác, cổ đông là người đã góp vốn vào công ty cổ phần và sở hữu số vốn góp tương ứng với số lượng cổ phần đã mua. Luật cũng quy định số lượng cổ đông tối thiểu của công ty cổ phần là 03 và không giới hạn số lượng tối đa. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp.
Khoản 4 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2020 xác định thời điểm một người trở thành cổ đông là khi hoàn tất việc ghi nhận tên vào sổ đăng ký cổ đông. Cụ thể: “Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty”.
Như vậy, tư cách cổ đông chỉ được xác lập khi đồng thời đáp ứng hai điều kiện: (i) đã thanh toán đủ giá trị cổ phần; và (ii) thông tin về người mua được ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông. Chỉ kể từ thời điểm hoàn tất hai thủ tục này, người mua cổ phần mới chính thức trở thành cổ đông và được hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ theo Luật Doanh nghiệp.
Theo nội dung bản án, Công ty cổ phần T4 được thành lập ngày 15/9/2016, vốn điều lệ ban đầu 30 tỷ đồng với ba cổ đông sáng lập: ông Nguyễn Quang H2 (45% cổ phần), bà Võ Thị L1 (45% cổ phần) và bà Mai Thị L2 (10% cổ phần). Đến ngày 05/7/2017, Công ty tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ đồng bằng hình thức chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu. Trong đợt này, ông Hải đăng K mua 5.400.000 cổ phần (45% vốn điều lệ), bà L1 đăng ký mua 45% cổ phần, bà L2 đăng ký mua 10% cổ phần. Tuy nhiên, theo sổ sách kế toán, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày thành lập doanh nghiệp, chỉ có ông H2 thực hiện việc góp vốn. Số tiền góp vốn được ghi nhận là 3.050.000.000 đồng (tương ứng 10,16% vốn điều lệ ban đầu), các cổ đông còn lại chưa góp vốn. Sau khi tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ đồng, các cổ đông hiện hữu cũng không mua số cổ phần đã đăng ký, ngoại trừ ông H2 góp thêm 16.276.000.000 đồng vào Công ty T4.
Đáng chú ý, khi Công ty tăng vốn điều lệ lên 120 tỷ đồng, các cổ đông hiện hữu dù đã đăng ký mua cổ phần nhưng cũng không thực hiện thanh toán, ngoại trừ ông H2 góp thêm 16.276.000.000 đồng. Điều này cho thấy:
Về nghĩa vụ góp vốn: Theo khoản 1 Điều 111 và khoản 1 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2014 (nay tương ứng khoản 1 Điều 112 và khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020), cổ đông sáng lập phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Việc không góp hoặc góp không đủ trong thời hạn này dẫn đến hậu quả pháp lý là cổ đông chưa thanh toán được coi là không còn là cổ đông đối với số cổ phần chưa thanh toán và phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại phát sinh. Luật Doanh nghiệp 2020 bổ sung rằng nếu góp vốn bằng tài sản, thời gian vận chuyển, nhập khẩu và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản không tính vào thời hạn này.
Về tư cách cổ đông: Căn cứ khoản 4 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2014 (nay là khoản 4 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2020), một người chỉ được coi là cổ đông khi đã thanh toán đủ và thông tin được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Do đó, bà L1, bà L2 và ông Hải đăng K chỉ đăng ký mua nhưng không thanh toán thì chưa phát sinh tư cách cổ đông hợp pháp.
Về cơ cấu vốn thực góp: Dù vốn điều lệ đăng ký là 30 tỷ đồng (sau tăng lên 120 tỷ đồng) nhưng thực tế vốn góp chỉ đến từ một cá nhân là ông H2, với tổng số tiền 19.326.000.000 đồng. Sự chênh lệch lớn giữa vốn đăng ký và vốn thực góp ảnh hưởng trực tiếp đến tính trung thực của thông tin đăng ký doanh nghiệp, quyền lợi của bên thứ ba và nghĩa vụ tài chính của công ty.
Từ các yếu tố trên, có thể thấy rằng việc xác định tư cách cổ đông của các cá nhân liên quan, cũng như tính hợp pháp của các giao dịch chuyển nhượng cổ phần về sau, cần phải dựa vào điều kiện thanh toán và ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông, chứ không chỉ căn cứ vào danh sách cổ đông trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.
Thứ hai, Hệ lụy pháp lý và điều kiện tồn tại
Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, công ty cổ phần phải có tối thiểu 03 cổ đông. Nếu chỉ còn 01 cổ đông, công ty vi phạm điều kiện tồn tại của loại hình doanh nghiệp này. Trong trường hợp này, công ty cần thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 203 Luật Doanh nghiệp 2020 “Công ty chỉ còn lại 01 cổ đông.” Trường hợp công ty không thực hiện trong thời hạn 06 tháng liên tục có thể bị giải thể theo Điều 207.
Trong vụ việc này, Tòa án đã bác bỏ lập luận của ông H2 cho rằng ông sở hữu 100% cổ phần của công ty. Thực tế, dựa trên vốn điều lệ khi thành lập doanh nghiệp là 30 tỷ đồng và sau khi tăng vốn lên 120 tỷ đồng, tỷ lệ vốn ông H2 đã nộp chỉ tương ứng 10,16% (giai đoạn vốn điều lệ 30 tỷ) và 16,1% (giai đoạn vốn điều lệ 120 tỷ). Do đó, không có cơ sở pháp lý để khẳng định ông H2 sở hữu toàn bộ cổ phần của công ty.
Bên cạnh đó, Công ty T4 vẫn đang hoạt động dưới loại hình công ty cổ phần trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền cấp và còn hiệu lực pháp luật. Điều này có nghĩa là về mặt pháp lý, công ty vẫn được công nhận là công ty cổ phần, bất kể tình trạng vốn thực góp và số lượng cổ đông thực tế có thể không đáp ứng điều kiện luật định. Tuy nhiên, nếu số lượng cổ đông không được bổ sung kịp thời hoặc không thực hiện thủ tục chuyển đổi, công ty có nguy cơ bị xử lý vi phạm, thậm chí giải thể.
Thứ ba, Hệ lụy với các giao dịch với bên thứ ba
Như đã phân tích, ông Nguyễn Quang H2 thực tế chỉ thanh toán mua cổ phần với số tiền 19.326.200.000 đồng, tương ứng 1.932.620 cổ phần (chiếm 16,1% vốn điều lệ 120 tỷ đồng của công ty). Tuy nhiên, ngày 01/5/2020, ông H2 cùng bà Lê Thị H đã ký Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 05 với nội dung ông H2 có 5.400.000 cổ phần (tương ứng 54 tỷ đồng) và chuyển nhượng cho bà H 2.760.000 cổ phần, trị giá 27,6 tỷ đồng, chiếm 23% vốn điều lệ.
Về hình thức và nội dung, hợp đồng này nhìn chung đáp ứng các điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 117, Điều 118 và Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, do đó về nguyên tắc đã phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên ký kết. Tuy nhiên, thực tế ông H2 chỉ sở hữu 16,1% vốn điều lệ (tương ứng 1.932.620 cổ phần), trong khi lại cam kết chuyển nhượng 2.760.000 cổ phần cho bà H – tức vượt quá số cổ phần mà ông H2 thực tế nắm giữ.
Như vậy, phần vượt quá này bị vô hiệu vì đối tượng giao dịch không thuộc quyền sở hữu của ông H2, nên phần vượt quá này vô hiệu. Điều này dẫn tới hệ lụy pháp lý: (i) bên nhận chuyển nhượng (bà H) không được công nhận là chủ sở hữu đối với số cổ phần vượt quá; (ii) các quyền liên quan như quyền biểu quyết, quyền hưởng cổ tức từ phần cổ phần vượt quá không được pháp luật bảo vệ; (iii) phát sinh nghĩa vụ hoàn trả, bồi thường nếu có thiệt hại theo Điều 130, 131 Bộ luật Dân sự 2015.
Từ những nhận định và tình tiết được nêu trong bản án, có thể nhận thấy rằng giao dịch chuyển nhượng cổ phần giữa ông Nguyễn Quang H2 và bà Lê Thị H không chỉ dừng lại ở phạm vi một tranh chấp dân sự thông thường mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy pháp lý phức tạp và đa chiều.
Nhìn chung, Việc xác lập và ký kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần vượt quá số cổ phần thực tế mà bên chuyển nhượng đang sở hữu không chỉ đặt ra vấn đề về hiệu lực của giao dịch mà còn có nguy cơ làm phát sinh tranh chấp nghiêm trọng liên quan đến tư cách và quyền của cổ đông, đặc biệt là các quyền cốt lõi như quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, quyền được chia cổ tức, cũng như quyền tham gia quản trị và định đoạt hoạt động của công ty.
Nếu giao dịch này chỉ được thực hiện trên giấy tờ mà không được ghi nhận một cách hợp pháp và đầy đủ trong Sổ đăng ký cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp, điều đó sẽ tạo ra khoảng cách và sự mâu thuẫn giữa hồ sơ nội bộ của công ty với tình trạng pháp lý được pháp luật công nhận. Sự mâu thuẫn này không chỉ ảnh hưởng đến tính minh bạch, ổn định trong hoạt động quản trị, mà còn tiềm ẩn nguy cơ làm mất niềm tin của các nhà đầu tư, đối tác và cơ quan quản lý nhà nước đối với công ty.
Nghiêm trọng hơn, trong trường hợp có đủ căn cứ chứng minh rằng bên chuyển nhượng biết rõ mình không sở hữu hoặc không có quyền định đoạt số cổ phần đã chuyển nhượng nhưng vẫn cố ý thực hiện giao dịch để nhận tiền hoặc lợi ích từ bên mua, thì hành vi này có thể bị coi là gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Khi đó, ngoài việc giao dịch dân sự có nguy cơ bị tuyên vô hiệu, bên chuyển nhượng còn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, tùy thuộc vào yếu tố lỗi, mục đích, hành vi cụ thể và giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Điều này cho thấy, một hành vi tưởng chừng chỉ liên quan đến quan hệ hợp đồng dân sự nhưng nếu vượt quá giới hạn pháp luật cho phép thì hoàn toàn có thể chuyển hóa thành trách nhiệm hình sự, kéo theo những hậu quả pháp lý nghiêm trọng và lâu dài.
Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều vụ án liên quan đến việc nâng khống vốn điều lệ hoặc để công ty rơi vào tình trạng chỉ còn một thành viên không chỉ phản ánh hành vi vi phạm pháp luật, mà còn phơi bày hàng loạt rủi ro nội bộ tiềm ẩn trong quản trị doanh nghiệp. Khi vốn điều lệ chỉ là “con số ảo” trên giấy tờ, cơ cấu sở hữu không minh bạch hoặc tập trung vào duy nhất một cá nhân, công ty gần như mất đi cơ chế kiểm soát chéo, các quyết định quan trọng bị chi phối hoàn toàn bởi một chủ thể, dẫn đến nguy cơ lạm quyền, sử dụng tài sản công ty cho mục đích cá nhân, hoặc định hướng hoạt động theo lợi ích riêng. Bên cạnh đó, sự thiếu đồng bộ giữa hồ sơ pháp lý và thực tế quản trị làm phát sinh tranh chấp quyền lợi giữa các cổ đông chính thức và “cổ đông ngầm”, tạo điều kiện cho việc che giấu dòng tiền, thực hiện các giao dịch ẩn, và thậm chí hợp thức hóa các hành vi gian lận. Đây là nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp từ chỗ có tiềm năng phát triển lại rơi vào khủng hoảng, mất uy tín, hoặc trở thành công cụ cho các hoạt động trái pháp luật, gây tác động tiêu cực không chỉ cho chính công ty mà còn cho cả môi trường đầu tư và trật tự thị trường.
Việc cố tình kê khai, đăng ký vốn điều lệ “ảo” tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng cho chính bản thân doanh nghiệp. Khoản 5 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ, hành vi kê khai khống vốn điều lệ hoặc không góp đủ vốn điều lệ như đã đăng ký là hành vi bị nghiêm cấm. Doanh nghiệp và người liên quan có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 47 Nghị định 122/2021/NĐ-CP. Trên thực tế, dù số vốn góp là “ảo”, nhưng khi phát sinh nghĩa vụ tài chính, các cổ đông hoặc thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã đăng ký; điều này có thể dẫn đến các tranh chấp gay gắt về phân chia lợi nhuận, nghĩa vụ tài chính và quyền quản lý công ty, đặc biệt khi doanh nghiệp chỉ còn một hoặc vài thành viên chủ chốt.
Ngoài ra, việc không góp đủ vốn điều lệ sẽ kéo theo hệ quả về thuế: khoản chi phí lãi vay tương ứng phần vốn chưa góp sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại điểm 2.17 và 2.18 khoản 2 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC. Về khía cạnh nội bộ, vốn “ảo” tạo nên bức tranh tài chính sai lệch, gây hiểu nhầm về tiềm lực của doanh nghiệp đối với đối tác, nhà đầu tư và thậm chí cả các thành viên trong chính công ty, từ đó dễ phát sinh mâu thuẫn, mất niềm tin và tranh chấp nội bộ.
Để hạn chế rủi ro này, nhất là trong các giao dịch mua bán, sáp nhập hoặc góp vốn, việc thẩm định thực tế về vốn điều lệ là bước không thể bỏ qua. Việc xác minh có thể dựa trên nhiều chứng cứ: biên bản góp vốn; phiếu thu hoặc sao kê ngân hàng thể hiện đã thanh toán tiền góp vốn; sổ đăng ký cổ đông hoặc thành viên; giấy chứng nhận cổ phần/vốn góp; báo cáo tài chính; cùng các chứng từ kế toán khác có liên quan. Chỉ khi vốn góp được xác thực, doanh nghiệp mới bảo đảm sự minh bạch tài chính, củng cố niềm tin của đối tác và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động.
Nếu Quý khách hàng đang có nhu cầu tư vấn cụ thể liên quan đến các vấn đề pháp lý trong quản trị doanh nghiệp, xin vui lòng liên hệ với Luật sư VCT để được hỗ trợ kịp thời, chính xác và hiệu quả.
Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.
Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn pháp luật về đất đai của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com.Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật.
Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.
Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40 hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách.
Văn phòng Luật sư VCT
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.luatsuvct.com
- CSKH: info@luatsuvct.com

