lựa chọn loại hình doanh nghiệp

LỰA CHỌN LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP KHI ĐĂNG KÝ KINH DOANH 

 

Lựa chọn loại hình doanh nghiệp để đăng ký thành lập doanh nghiệp
Luật sư vct – tư vấn thành lập doanh nghiệp

Phần mở đầu

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn loại hình doanh nghiệp. Tổ chức hoặc cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp cần cân nhắc các yếu tố này để hiểu vì sao lại nên chọn loại hình doanh nghiệp này mà không phải là loại hình doanh nghiệp khác, từ đó đưa ra quyết định loại hình doanh nghiệp phù hợp. 

Sau đây Luật sư VCT (Công ty Luật pháp lý AV Bình Dương) xin được giới thiệu đến quý khách hàng một số yếu tố chủ yếu sau đây để khách hàng có thể tự tin trong việc ra quyết định để chọn lựa loại hình doanh nghiệp đăng ký khi kinh doanh. 

Thứ nhất: Yếu tố đầu tiên Quý khách hàng sẽ xem xét khi chọn lựa loại hình đăng ký doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh đó là: Thủ tục thành lập và chi phí vận hành doanh nghiệp; 

Thứ hai: Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp; 

Thứ ba: Số lượng chủ sở hữu doanh nghiệp và tên doanh nghiệp; 

Thứ tư: Cơ cấu tổ chức quản lý;

Thứ năm: Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp;

Thứ sáu: Khả năng huy động vốn; 

Thứ bảy: Nghĩa vụ công bố công khai thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp;

Thứ tám: Thuế thu nhập doanh nghiệp. 

Do mục đích thành lập và kế hoạch phát triển cũng như các nguồn lực của Chủ sở hữu thay đổi theo thời gian, hình thức tổ chức kinh doanh và doanh nghiệp cũng có thể thay đổi theo. Mô hình kinh doanh của doanh nghiệp tại Việt Nam thường phát triển từ Công ty TNHH Một thành viên sau đó phát triển thành Công ty TNHH Hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần và cuối cùng là công ty đại chúng. Mô hình DNTN hoặc CTHD ngày càng trở nên hiếm được sử dụng ở Việt Nam. 

Tại thời điểm kinh doanh ban đầu, khi mô hình kinh doanh còn nhỏ, cần tiết kiệm chi phí và chủ sở hữu có nhu cầu quản lý hoàn toàn công việc kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ sở hữu có thể thành thập Doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty TNHH Một thành viên. Do Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu có trách nhiệm vô hạn, Công ty TNHH Một thành viên rõ ràng là sự lựa chọn tốt hơn và đây cũng là thực tiễn trên thị trường. Cũng tương tự như vậy, thành viên hợp danh có trách nhiệm vô hạn và Công ty Hợp danh cũng không phải là sự lựa chọn thông dụng trên thị trường, trừ trường hợp hoạt động kinh doanh có liên quan bắt buộc phải thành lập theo hình thức CTHD. 

Khi doanh nghiệp phát triển và cần được mở rộng kinh doanh, chủ sở hữu DNTN hoặc Công ty TNHH một thành viên có thể mời một số ít tổ chức hoặc cá nhân khác thân quen với mình để góp thêm vốn vào công ty và tiếp thu kinh nghiệm kinh doanh từ các tổ chức hoặc cá nhân mới góp vốn này. Tuy vậy, quyền quản lý công ty vẫn được bảo đảm nằm trong một nhóm ít các thành viên. Trong trường hợp này, CTTNHH Một thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp phù hợp. Khi công ty ngày càng phát triển và có nhu cầu huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán thì Công ty TNHH có thể chuyển đổi thành Công ty Cổ phần để đáp ứng nhu cầu trên. Công ty đại chúng (Kể cả công ty đại chúng quy mô lớn) là bước phát triển cuối cùng của doanh nghiệp khi đã phát triển tới một quy mô nhất định. 

Thủ tục, chi phí thành lập và vận hành doanh nghiệp

Khi bắt đầu lựa chọn loại hình doanh nghiệp, một trong những câu hỏi đầu tiên mà chủ sở hữu đặt ra là liệu thủ tục và chi phí thành lập và vận hành loại hình doanh nghiệp nào là đơn giản nhất và đỡ tốn kém nhất. Trong phạm vi nguồn lực của chủ sở hữu và yêu cầu về phát triển doanh nghiệp trong tương lai, đâu là loại hình doanh nghiệp phù hợp nhất mà không tốn thời gian và chi phí cho chủ sở hữu thành lập và vận hành doanh nghiệp. 

Thủ tục và chi phí thành lập: 

Không tính đến yếu tố nguồn vốn trong nước hay nước ngoài và chỉ xét về loại hình doanh nghiệp, hồ sơ xin thành lập và thủ tục thành lập các loại hình doanh nghiệp như Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Hợp danh, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần không có sự khác biệt đáng kể. Chủ sở hữu Doanh nghiệp tư nhân chỉ cần gửi hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp cho cơ quan đăng ký kinh doanh để xin giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đối với Công ty Hợp danh, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần thì trong hồ sơ đăng ký cần phải có thêm Dự thảo Điều lệ Công ty. Thời gian thực hiện hồ sơ là trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Như vậy, không có sự khác biệt đáng kể về thời gian và chi phí khi thành lập doanh nghiệp. Riêng, thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức Công ty TNHH và Công ty Cổ phần tương đối phức tạp hơn so với thành lập doanh nghiệp trong nước và do vậy cũng tốn kém hơn. 

Việc chuyển đổi Công ty Cổ phần thành công ty đại chúng phức tạp và tốn chi phí hơn so với thành lập các loại hình doanh nghiệp khác vì điều lệ công ty đại chúng tương đối phức tạp, phải tuân thủ các quy định riêng của pháp luật về chứng khoán và phải có thủ tục đăng ký công ty đại chúng với Uỷ ban chứng khoán nhà nước. 

Thủ tục và chi phí vận hành

Đối với các Công ty cổ phần không phải đại chúng, chi phí quản lý doanh nghiệp về cơ bản phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức quản lý của từng loại hình doanh nghiệp. Một cách tương đối có thể sắp xếp như sau:

  1. Doanh nghiệp tư nhân có cơ cấu tổ chức quản lý đơn giản nhất và chủ doanh nghiệp có thể tự mình quản lý Doanh nghiệp tư nhân. Do vậy, chi phí quản lý Doanh nghiệp tư nhân ít tốn kém nhất;
  2. Công ty Hợp danh và Công ty TNHH có cơ cấu tổ chức quản lý phức tạp hơn Doanh nghiệp tư nhân, về cơ bản bao gồm hội đồng thành viên và ban kiểm soát, nên tốn kém chi phí quản lý hơn so với Doanh nghiệp tư nhân;
  3. Công ty Cổ phần có cơ cấu tổ chức phức tạp nhất, về cơ bản bao gồm đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát nên tốn kém chi phí quản lý hơn so với các loại hình doanh nghiệp nêu trên. Chi phí tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông từ việc thuê địa điểm họp đến gửi thư mời họp là chi phí quản lý tốn kém của Công ty cổ phần. 

Đặc biệt, Công ty cổ phần là công ty đại chúng có chi phí quản lý tốn kém nhất. So với Công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng, công ty đại chúng có thể có các chi phí phát sinh thêm liên quan đến (i) Chuẩn bị báo cáo tài chính hàng tháng, hàng quý và hàng năm và báo cáo tài chính hợp nhất trong trường hợp công ty đại chúng là công ty mẹ, (ii) thực hiện các nghĩa vụ công bố thông tin thường xuyên và bất thường theo quy định của pháp luật về Công ty đại chúng và thị trường chứng khoán và (iii) tuân thủ các quy định về quản trị nội bộ áp dụng riêng cho công ty đại chúng và các quy định về niêm yết áp dụng riêng cho công ty niêm yết. 

Tư cách pháp nhân và trách nhiệm của chủ sở hữu 

Vấn đề quan trọng cần cân nhắc tiếp theo liên quan đến việc doanh nghiệp phát triển và huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu, các chứng khoán nợ khác và vay ngân hàng. Nợ vay dưới hình thức phát hành chứng khoán nợ và vay ngân hàng có thể lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu. Nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp cũng có thể phát sinh liên quan đến nghĩa vụ của doanh nghiệp với người tiêu dùng. Một doanh nghiệp sản xuất và bán thức ăn, đồ uống và vật dụng gia đình có thể có trách nhiệm pháp lý đáng kể với người tiêu dùng sản phẩm của mình khi sản phẩm gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng. 

Trong những trường hợp trên, chủ sở hữu nên cân nhắc thành lập một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân để chủ sở hữu chi chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp hoặc cam kết góp vào doanh nghiệp. Nói cách khác, nếu chủ sở hữu đã góp đủ vốn theo cam kết thì chủ sở hữu không còn bất kỳ trách nhiệm gì đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp đối với chủ nợ, người tiêu dùng hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác. 

Đứng từ góc độ trách nhiệm hữu hạn của chủ sở hữu  đối với nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp với chủ nợ, người tiêu dùng và bên thứ ba, hình thức Công ty TNHH và Công ty cổ phần ưu việt hơn so với Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh. Doanh nghiệp tư nhân không được coi là pháp nhân và chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình. Công ty hợp danh mặt dù có tư cách pháp nhân nhưng thành viên hợp danh cũng có trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ nợ của Công ty. Đứng từ góc độ này, hình thức Công ty TNHH và Công ty Cổ phần có lợi hơn Doanh nghiệp tư nhân và Công ty Hợp danh. Đây là lý do cơ bản mà số lượng Doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam rất hạn chế, vì cá nhân có thể lựa chọn Công ty TNHH Một thành viên, theo đó cá nhân có trách nhiệm trách nhiệm hữu hạn mà vẫn có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với công ty. Cũng tương tự như vậy, Công ty Hợp danh cũng rất hiếm ở Việt Nam trừ một số loại hình kinh doanh mà bắt buộc phải thành lập dưới hình thức Công ty Hợp danh trong một số trường hợp nhất định (Ví dụ: Ngành Luật)

Số lượng chủ sở hữu doanh nghiệp

Số lượng chủ sở hữu là một yếu tố quan trọng trong các yếu tố cần cân nhắc. Nhiều chủ sở hữu chỉ muốn thành lập và quản lý doanh nghiệp một mình và không muốn có sự tham gia của các chủ sở hữu khác. Khi doanh nghiệp phát triển cần nhiều chủ sở hữu góp vốn thì việc doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu là không thể tránh khỏi. Chủ sở hữu đôi khi cũng muốn tên doanh nghiệp phản ánh tên riêng của mình. 

Đứng từ khía cạnh này, nếu chủ sở hữu chỉ muốn quản lý doanh nghiệp một mình và muốn giữ tên doanh nghiệp giống tên mình thì hình thức phù hợp nhất là Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Hợp danh hoặc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH Một thành viên có một chủ sở hữu. Công ty TNHH hai thành viên trở lên có số lượng chủ sở hữu từ 02 đến tối đa 50 thành viên. Công ty hợp danh có số lượng thành viên hợp danh tối thiểu là 02 thành viên và không hạn chế số lượng tối đa thành viên. Nếu chọn hình thức công ty cổ phần thì phải có ít nhất ba cổ đông và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa. Công ty đại chúng thường có trên 100 cổ đông, không có giới hạn cổ đông nên có thể có hàng trăm hoặc hàng nghìn cổ đông. Nếu các chủ sở hữu doanh nghiệp muốn hạn chế số lượng hoặc hạn chế những cá nhân hoặc tổ chức mà họ biết để dễ kiểm soát doanh nghiệp thì hình thức Công ty cổ phần, đặc biệt là công ty đại chúng là không phù hợp. 

Không có hạn chế theo luật ở bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào về quan hệ giữa tên doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp. Trên thực tế, việc đặt tên doanh nghiệp theo tên chủ sở hữu doanh nghiệp có Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh thông dụng hơn Công ty TNHH, Công ty Cổ phần và Công ty đại chúng. Hầu như không có công ty đại chúng nào có tên doanh nghiệp đặt theo tên cổ đông sáng lập hoặc cỏ đông kiểm soát công ty. Thông thường, trong một doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, các chủ sở hữu muốn tên doanh nghiệp có tính chất đại diện hoặc biểu trưng cho ngành nghề, sản phẩm hoặc số thành viên hoặc cổ đông. Do vậy, nếu chủ sở hữu muốn giữ tên doanh nghiệp giống tên mình thì hình thức phù hợp nhất là Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Hợp danh hoặc Công ty TNHH Một thành viên. 

Cơ cấu hoạt động

Loại hình doanh nghiệp quyết định đến việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp đó và khả năng tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp. Đứng từ góc độ của chủ sở hữu, càng có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp có nghĩa là chủ sở hữu càng mất quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp càng có nhiều chủ sở hữu thì doanh nghiệp cơ cấu quản lý phức tạp hơn và sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý càng rõ nét hơn. Trong trường hợp chủ sở hữu không muốn từ bỏ quyền quản lý doanh nghiệp, hình thức Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH một thành viên và Công ty Hợp danh là loại hình doanh nghiệp phù hợp nhất. Nếu đây không phải là vấn đề quan trọng, các hình thức khác như Công ty TNHH hai thành viên trở lên hoặc Công ty cổ phần có thể được sử dụng. 

Khi chọn hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu toàn quyền quyết định mọi vấn đề trong quản lý hoạt động doanh nghiệp. Trong trường hợp này, chủ sở hữu cũng đồng thời là người quản lý doanh nghiệp. 

Công ty Hợp danh và Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể có nhiều thành viên và phải có hội đồng thành viên. Cơ cấu quản lý của Công ty hợp danh tương đối đơn giản và thành viên hợp danh tham gia trực tiếp vào việc quản lý công ty. Chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa vai trò của thành viên hợp danh với tư cách là chủ sở hữu và với tư cách là người quản lý công ty. Trong một chừng mực nhất định, điều này cũng đúng đối với thành viên Công ty TNHH hai thành viên trở lên. 

Công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu hơn và có các cơ quan quản lý để chia sẻ và kiểm soát quyền quản lý. Công ty cổ phần có cơ cấu phức tạp nhất trong các loại hình doanh nghiệp, bao gồm đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, ban kiểm soát và các chức danh quản lý khác của công ty. Trong trường hợp Công ty cổ phần không theo mô hình có ban kiểm soát thì hoạt động của Hội đồng quản trị sẽ được giám sát bởi thành viên hội đồng quản trị độc lập và ban kiểm toán nội bộ. Trong công ty cổ phần có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty. Đặc điểm này không có trong các loại hình doanh nghiệp khác. Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý được thể hiện rõ nét hơn trong công ty đại chúng. Pháp luật quy định chặt chẽ hơn về thành viên hội đồng quản trị độc lập và không điều hành cũng như tính độc lập của thành viên và ban kiểm soát trong Công ty đại chúng. 

Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động, chủ sở hữu có thể muốn chuyển nhượng phần vốn góp hoặc bán cho doanh nghiệp (thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp). Khả năng chuyển nhượng là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc vì thông thường chủ sở hữu muốn tự do chuyển nhượng phần vốn của mình mà không cần thông báo hay xin chấp thuận của người khác. Đứng ở góc độ này, Công ty cổ phần là hình thức phù hợp nhất để tạo điều kiện cho việc chuyển nhượng và bán doanh nghiệp. Cổ đông không phải là cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần và khi Công ty cổ phần niêm yết thì việc chuyển nhượng cổ phần của công ty niêm yết dễ dàng hơn rất nhiều. 

Chủ Doanh nghiệp tư nhân không được chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác, tuy nhiên, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể bán doanh nghiệp cho người khác và vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và người mua, người bán và chủ nợ có thoả thuận khác. 

Có các hạn chế nhất định đối với việc chuyển nhượng phần vốn góp đối với Công ty Hợp danh, Công ty TNHH và Công ty Cổ phần. Trong Công ty Hợp danh, thành viên hơp danh chỉ được phép chuyển nhượng phần vốn góp nếu được sự đồng ý của thành viên hợp danh khác. Trong công ty TNHH, thành viên chỉ được phép chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bên thứ ba sau khi đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn của họ với cùng điều kiện. Đối với Công ty cổ phần (kể cả công ty đại chúng), các cổ đông phổ thông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình; tuy nhiên, các cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần phổ thông đăng ký ban đầu cho bên thứ ba trong vòng 03 năm kể từ khi thành lập công ty trừ khi có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Việc chuyển nhượng cổ phần của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thường dễ dàng hơn tất cả các loại hình doanh nghiệp khác nhưng phải tuân thủ biên độ dao động giá và các quy định của sở giao dịch chứng khoán nơi cổ phần được niêm yết. 

Việc chuyển nhượng một phần vốn góp và cổ phần trong Công ty TNHH và CTCP không ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của Công ty TNHH và Công ty Cổ phần và các công ty vẫn tiếp tục hoạt động bình thường sau khi chuyển nhượng. Việc bán Doanh nghiệp tư nhân hoặc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh thường dẫn đến việc đổi tên doanh nghiệp. 

Khả năng huy động vốn 

Doanh nghiệp không thể chỉ dựa duy nhất vào nguồn vốn góp của chủ sở hữu để phát triển hoạt động kinh doanh. Đến một giai đoạn phát triển nhất định, doanh nghiệp cần huy động các nguồn vốn khác, chủ yếu thông qua việc phát hành chứng khoán hoặc vay ngân hàng. Không có hạn chế theo luật đối với khả năng vay vốn ngân hàng đối với mọi loại hình doanh nghiệp miễn là doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của ngân hàng và mục đích sử dụng khoản vay đó. Tuy nhiên, không phải loại hình doanh nghiệp nào cũng được phép phát hành chứng khoán. Do vậy, khả năng doanh nghiệp có thể phát hành chứng khoán là một cân nhắc quan trọng của chủ sở hữu trong việc quyết định loại hình doanh nghiệp. Hai loại chứng khoán chủ yếu thường được sử dụng trong việc huy động vốn là cổ phiếu và trái phiếu. 

Doanh nghiệp tư nhân và Công ty Hợp danh không được phép phát hành chứng khoán. Công ty TNHH chỉ được phát hành trái phiếu thường (không thể chuyển đổi thành phần vốn góp) và không có cơ sở pháp lý rõ ràng cho phép Công ty TNHH phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc bất kỳ loại chứng khoán nào khác. Công ty cổ phần được phép phát hành cổ phiếu, trái phiếu và bất kỳ loại chứng khoán khác. Do vậy, so với với Công ty cổ phần, khả năng huy động vốn của các loại hình doanh nghiệp khác bị hạn chế hơn nhiều. Công ty cổ phần có nhiều sự lựa chọn nhất trong việc huy động vốn. 

Nghĩa vụ công bố công khai thông tin liên quan đến hoạt động doanh nghiệp 

Một vấn đề mà chủ sở hữu quan tâm là việc bảo mật thông tin cá nhân và thông tin doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp và chủ sở hữu không có nghĩa vụ công bố thông tin ra công chúng thì tính bảo mật được duy trì. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp và cổ đông bắt đầu có nghĩa vụ công bố thông tin ra công chúng thì chủ sở hữu phải chấp nhận thực tế là công chúng có thể biết các thông tin nhạy cảm liên quan đến doanh nghiệp và chủ sở hữu. 

Nghĩa vụ công bố thông tin về cơ bản có sự khác biệt giữa công ty đại chúng và công ty không phải đại chúng. Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng có nghĩa vụ nộp một số báo cáo về tài chính, tình hình sử dụng lao động hoặc tiến độ thực hiện dự án cho cơ quan cấp phép, quản lý lao động, thuế và thống kê địa phương. Công ty cổ phần có một số nghĩa vụ công bố thông tin cao hơn Doanh nghiệp tư nhân, Công ty Hợp danh, Công ty TNHH. Tuy nhiên các doanh nghiệp nhìn chung không có nghĩa vụ hoặc có nghĩa vụ hạn chế công bố thông tin liên quan đến hoạt động của mình. Do vậy, thông tin đa phần của doanh nghiệp được giữ bí mật giữa các chủ sở hữu doanh nghiệp. 

Công ty đại chúng có nghĩa vụ đáng kể việc việc công bố thông tin cho công chúng, bao gồm công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường, và công bố thông tin theo yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán haowcj sở giao dịch chứng khoán. Cổ đông của công ty đại chúng là cổ đông lớn và cổ đông sáng lập có nghĩa vị công bố thông tin đáng kể liên quan đến giao dịch cổ phiếu của họ. Do vậy, thông tin của công ty đại chúng và cổ đông của công ty đại chúng không được giữ bí mật giữa các cổ đông.

Thuế thu nhập doanh nghiệp 

Thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng đến lợi nhuận có thể được chia cho các chủ sở hữu. Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay tất cả mọi loại hình doanh nghiệp đều chịu một mức thuế suất chung về thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng với lợi nhuận của doanh nghiệp (trừ trường hợp các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi về thuế suất khi hoạt động trong ngành nghề được ưu đãi về thuế suất khi hoạt động trong ngành nghề được ưu đãi đầu tư kinh doanh). Đứng từ góc độ thuế thu nhập doanh nghiệp, các loại hình doanh nghiệp khác nhau tại thời điểm hiện nay không tạo ra sự khác nhau đối với nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp. Do vậy, việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp không quan trọng trong việc hạn chế ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lợi nhuận của doanh nghiệp. 

Ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp, có hai loại thuế có thể ảnh hưởng đến thu nhập của chủ sở hữu là (i) Thuế áp dụng cho chủ sở hữu liên quan đến khoản lợi nhuận hoặc cổ tức được phân chia và (ii) thuế áp dụng cho việc chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần. Về cơ bản, thuế áp dụng cho chủ sở hữu liên quan đến khoản lợi nhuận hoặc cổ tức được phân chia khác nhau giữa chủ sở hữu là tổ chức và cá nhân. Chủ sở hữu là tổ chức không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản lợi nhuận hoặc cổ tức được phân chia vì lợi nhuận được chia cho chủ sở hữu là lợi nhuận sau thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp không áp dụng hai lần ở cả tầng công ty và tầng thành viên hoặc cổ đông; trong khi đó, chủ sở hữu là cá nhân phải chịu thuế thu nhập cá nhân đối với khoản lợi nhuận hoặc cổ tức được phân chia. Thuế áp dụng cho việc chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần có sự khác nhau phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp, loại tài sản được chuyển nhượng và loại thu nhập phát sinh (là tiền hay hiện vật). Đây là một vấn đề phức tạp và vẫn còn đang phát triển trong Luật thuế Việt Nam. 

Có nhiều yếu tố liên quan đến việc lựa chọn loại hình đăng ký doanh nghiệp. Tám yếu tố chủ yếu thường được cân nhắc mà Luật sư VCT phân tích như nêu trên là những yếu tố cơ bản để các chủ doanh nghiệp làm tiêu chí trong quá trình chọn lựa loại hình doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh. 

Do mục đích thành lập và kế hoạch phát triển cũng như các nguồn lực của chủ sở hữu doanh nghiệp thay đổi theo thời gian, hình thức tổ chức kinh doanh và doanh nghiệp cũng có thể thay đổi theo, 

Quý khách hàng có nhu cầu thành lập doanh nghiệp hoặc cần tư vấn pháp luật doanh nghiệp, hãy liên hệ đến Luật sư VCT. 

Dịch vụ Luật sư VCT

Luật Sư VCT (Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương) là một Công ty Luật chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến lĩnh vực tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn thành lập doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn đầu tư. 

Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ tư vấn liên quan đến doanh nghiệp và các dịch vụ tư vấn khác. 

Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.

Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương (Luật sư VCT) thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. 

Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương (Luật sư VCT) tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải. 

Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề “lựa chọn loại hình doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh” mà Luật sư VCT muốn gửi đến quý khách hàng. Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40  hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách. 

Trân trọng.

=====================================
CÔNG TY LUẬT TNHH PHÁP LÝ AV BÌNH DƯƠNG
– Giải đáp trong việc thực hiện các thủ tục, hồ sơ,….
– Tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp
– Thực hiện hồ sơ tố tụng,..
– Đại diện uỷ quyền,..
– Tư vấn pháp luật về quản lý và xử lý nợ
Địa chỉ Văn Phòng: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương
Email: LuatsuVCT@gmail.com
Hotline: 0971.174.040 -0939.296.588
Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com