Lựa chọn hình thức kinh doanh ban đầu phụ thuộc hoàn toàn vào quyền quyết định của chủ sở hữu; tuy nhiên, khi có một số yếu tố phát sinh liên quan đến quy mô hoạt động kinh doanh thì chủ sở hữu buộc phải thành lập doanh nghiệp hoặc phải chuyển đổi doanh nghiệp từ loại hình doanh nghiệp này sang loại hình doanh nghiệp khác. Vì vậy, việc nhận diện các yếu tố thúc đẩy chuyển đổi, quy định pháp lý điều chỉnh và cả những bất cập trong thực tiễn là cần thiết để hoàn thiện môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho hoạt động đầu tư kinh doanh. Trong bài viết này, Luật sư VCT sẽ phân tích một số trường hợp bắt buộc phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và chỉ ra các bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề này.
1. Nhu cầu chiến lược và phát triển
Đầu tiên có thể thấy rằng việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp có thể phát sinh từ nhu cầu nội tại trong quá trình phát triển chiến lược của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô, hướng đến chuyên nghiệp hóa mô hình quản trị hoặc tìm kiếm cơ hội huy động vốn lớn hơn, việc thay đổi loại hình tổ chức là lựa chọn tất yếu nhằm thích ứng với yêu cầu phát triển. Cụ thể, doanh nghiệp có thể cần chuyển đổi loại hình trong các trường hợp sau:
- Mở rộng quy mô hoạt động: Khi doanh nghiệp gia tăng phạm vi sản xuất, kinh doanh hoặc tham gia vào các dự án lớn, mô hình tổ chức ban đầu (như doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH một thành viên) có thể không còn phù hợp để đáp ứng yêu cầu vận hành, quản trị và chia sẻ trách nhiệm.
- Thu hút thêm nhà đầu tư hoặc đối tác chiến lược: Việc chuyển đổi sang loại hình công ty có cấu trúc vốn linh hoạt hơn (ví dụ: công ty cổ phần) giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn lực tài chính từ bên ngoài và tăng tính hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư.
- Tối ưu hóa mô hình quản trị: Doanh nghiệp có thể cần xây dựng bộ máy quản trị hiệu quả, minh bạch và đáp ứng các chuẩn mực về kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và công bố thông tin – đặc biệt khi hướng đến việc trở thành công ty đại chúng.
- Chuẩn bị niêm yết cổ phiếu (IPO): Việc niêm yết cổ phần trên thị trường chứng khoán là một bước đi chiến lược trong lộ trình phát triển dài hạn. Để thực hiện điều này, doanh nghiệp bắt buộc phải là công ty cổ phần và đáp ứng các điều kiện pháp lý liên quan, bao gồm cả việc chuyển đổi loại hình nếu ban đầu không thuộc loại hình phù hợp.
Như vậy, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp không chỉ là yêu cầu từ quy định pháp luật mà còn là bước đi chiến lược nhằm tạo nền tảng pháp lý, tài chính và quản trị vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo của doanh nghiệp.
2. Số lượng thành viên hoặc cổ đông
Nghĩa vụ chuyển đổi từ một loại hình doanh nghiệp này sang một một loại hình doanh nghiệp khác chủ yếu dựa trên số lượng thành viên hoặc cổ đông. Luật doanh nghiệp 2020 quy định số lượng thành viên góp vốn hoặc số lượng cổ đông tối thiểu hoặc tối đa cho một số hình thức doanh nghiệp. Do vậy, khi số lượng thành viên góp vốn hoặc cổ đông vượt quá số lượng tối thiểu hoặc tối đa thì sẽ làm phát sinh nghĩa vụ chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Ví dụ:
- Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) chỉ do một cá nhân làm chủ và không được có thêm thành viên. Nếu có thêm người cùng góp vốn, DNTN buộc phải chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp khác, như Công ty TNHH hai thành viên hoặc Công ty Hợp danh.
- Công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ được có tối đa 50 thành viên góp vốn (khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020). Nếu số lượng thành viên vượt quá giới hạn này, doanh nghiệp phải chuyển đổi thành Công ty Cổ phần hoặc Công ty Hợp danh.
- Công ty Cổ phần có từ 3 cổ đông trở lên và không giới hạn số lượng tối đa. Tuy nhiên, khi có trên 100 cổ đông, doanh nghiệp phải đăng ký trở thành Công ty đại chúng theo quy định của pháp luật chứng khoán.
3. Hình thức huy động vốn, khả năng chuyển nhượng vốn và quy mô vốn
Hình thức huy động vốn, khả năng chuyển nhượng vốn và quy mô vốn cũng là những yếu tố có thể làm phát sinh nghĩa vụ chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, nhằm đảm bảo phù hợp với bản chất hoạt động và yêu cầu quản trị theo quy định pháp luật.
Mỗi loại hình doanh nghiệp có giới hạn khác nhau về khả năng và phương thức huy động vốn. Ví dụ, Doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH không được phát hành cổ phần, nên không thể huy động vốn từ công chúng. Trong khi đó, Công ty Cổ phần có quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn từ nhiều nhà đầu tư. Nếu một công ty TNHH mong muốn mở rộng quy mô huy động vốn ra công chúng, thì buộc phải chuyển đổi sang Công ty Cổ phần.
Quy định về việc chuyển nhượng phần vốn góp cũng là yếu tố phân biệt giữa các loại hình doanh nghiệp. Ở Công ty TNHH, việc chuyển nhượng vốn bị hạn chế và phải tuân thủ trình tự chặt chẽ (ưu tiên chào bán cho thành viên công ty). Ngược lại, Công ty Cổ phần cho phép tự do chuyển nhượng cổ phần (trừ một số trường hợp hạn chế theo điều lệ hoặc pháp luật). Khi nhu cầu chuyển nhượng vốn trở nên thường xuyên hoặc cần thiết cho việc thu hút đầu tư, doanh nghiệp có thể cần chuyển đổi từ Công ty TNHH sang Công ty Cổ phần để linh hoạt hơn.
Một Công ty Cổ phần đã huy động vốn dưới hình thức chào bán cổ phần ra công chúng (điểm c khoản 2 Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2020) hoặc tăng khả năng chuyển nhượng vốn thông qua việc niêm yết cổ phần phải được đăng ký là công ty đại chúng.
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 96/2020/TT-BTC, công ty đại chúng có vốn góp của chủ sở hữu từ 120 tỷ đồng trở lên tại báo cáo tài chính năm gần nhất đã được kiểm toán là Công ty đại chúng quy mô lớn. Trong các trường hợp này, doanh nghiệp không chỉ phải chuyển đổi loại hình mà còn có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về công ty đại chúng.
4. Bất cập và thực tiễn về việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp
Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là một hoạt động quan trọng và phổ biến trong suốt quá trình phát triển của doanh nghiệp nhằm thích ứng với nhu cầu mở rộng quy mô, tái cấu trúc quản trị hoặc tìm kiếm nguồn vốn. Tuy nhiên, mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn đã có quy định tương đối đầy đủ, quá trình thực hiện chuyển đổi trên thực tế vẫn tồn tại nhiều bất cập, cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn áp dụng.
Thứ nhất, Quy định pháp luật còn phân tán, thiếu hệ thống
Các quy định hiện đang phân tán ở nhiều văn bản như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Thuế, Luật Đầu tư… mà không được hệ thống hóa trong một chương hoặc mục riêng.
Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận, tra cứu và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục pháp lý cần thiết khi tiến hành chuyển đổi.
Thứ hai, Cơ chế kế thừa quyền và nghĩa vụ chưa rõ ràng
Theo quy định tại khoản 4 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2020, “Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi.” Như vậy, có thể hiểu rằng việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp không làm chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp mà chỉ làm thay đổi hình thức tổ chức. Doanh nghiệp sau chuyển đổi vẫn phải tiếp tục kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng đã ký kết, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, kể cả nợ thuế, cũng như thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến người lao động và bên thứ ba. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn chung chung, chưa làm rõ cơ chế thực hiện,chỉ dừng lại ở mức khẳng định nguyên tắc kế thừa, mà chưa có hướng dẫn cụ thể về cách thức xác lập quyền và nghĩa vụ được kế thừa, đặc biệt trong các trường hợp có tranh chấp phát sinh, hoặc khi một bên trong hợp đồng không đồng ý tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với doanh nghiệp sau khi chuyển đổi loại hình.
Đồng thời, việc chuyển đổi có thể gây bất lợi hoặc làm phát sinh rủi ro cho các bên liên quan (chủ nợ, đối tác, người lao động…) nếu không được thông báo kịp thời hoặc không có cơ chế bảo vệ quyền lợi của họ trong quá trình chuyển đổi.
Thứ ba, Trách nhiệm dân sự trong một số trường hợp chưa được làm rõ
Đối với những trường hợp đặc thù như chuyển đổi từ doanh nghiệp tư nhân sang công ty trách nhiệm hữu hạn – vốn có sự khác biệt căn bản về chế độ chịu trách nhiệm tài sản – pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ ràng về giới hạn trách nhiệm cá nhân của chủ sở hữu trước và sau khi chuyển đổi. Khoảng trống này tạo điều kiện cho những tranh chấp phát sinh liên quan đến nghĩa vụ tài chính hoặc các trách nhiệm dân sự cá nhân.
Thứ tư, Khó khăn về thủ tục hành chính và đăng ký kinh doanh
Có sự khác biệt nhất định giữa nghĩa vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp và nghĩa vụ đăng ký ngành nghề kinh doanh mặc dù sự khác biệt này không được quy định rõ ràng trong Luật doanh nghiệp 2020 và đôi khi mờ nhạt. Chủ sở hữu có nghĩa vụ nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với các hoạt động “kinh doanh” (là hoạt động có tính liên tục và sinh lợi) của doanh nghiệp. Tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, nghĩa vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp và nghĩa vụ đăng ký ngành nghề kinh doanh là một và không có sự phân biệt giữa hai nghĩa vụ đó. Trong hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, chủ sở hữu phải đăng ký ngành nghề kinh doanh đối với các hoạt động kinh doanh dự kiến sẽ thực hiện.
Sau khi doanh nghiệp được thành lập, ngoài hoạt động kinh doanh đã đăng ký tại thời điểm thành lập, doanh nghiệp thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh mới. Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần thông báo thay đổi ngành nghề kinh doanh đối với các hoạt động kinh doanh mới này với cơ quan đăng ký kinh doanh. Nếu hoạt động kinh doanh mới này liên quan đến ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp cần xin giấy phép kinh doanh từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực đó trước khi thực hiện hoạt động kinh doanh mời này trên thực tế. Tại thời điểm này, nghĩa vụ đăng ký ngành nghề kinh doanh phát sinh mặc dù doanh nghiệp không có nghĩa vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp mới để thực hiện hoạt động kinh doanh mới này.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp gặp nhiều vướng mắc hành chính khi thực hiện chuyển đổi như thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, con dấu, mã số thuế… do chưa có sự hướng dẫn rõ ràng, đồng bộ từ cơ quan đăng ký kinh doanh, gây chậm trễ và gia tăng chi phí cho doanh nghiệp.
Cuối cùng, Khoảng trống pháp lý về chế tài và hậu quả pháp lý khi chuyển đổi trái luật
Hiện tại, luật thực định của Việt Nam chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề chuyển đổi hình thức công ty vô hiệu. Mặc dù, thực tế đã có một số vụ xử lý việc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh không đúng quy định của pháp luật, cụ thể bằng biện pháp hành chính, cơ quan đăng ký kinh doanh đã sử dụng chế tài thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã thay đổi và hủy bỏ những nội dung thay đổi, trong đó có nội dung chuyển đổi loại hình công ty.
Có thể nói rằng, với hệ thống pháp luật hiện hành, các cơ quan tài phán không có nhiều vướng mắc về việc tuyên giao dịch chuyển đổi hình thức công ty vô hiệu, tuy nhiên, đối với việc xử lý hậu quả phải đối mặt với nhiều khó khăn. Nếu áp dụng các chế tài một cách cứng nhắc sẽ không đảm bảo lợi ích của người dân, không thể hiện vai trò bảo vệ trật tự công, sẽ là rào cản cho việc phát triển kinh tế xã hội…
Ví dụ: CTCP ABC khi thành lập, 3 cổ đông cam kết mua 100% vốn điều lệ 100 tỷ; sau 90 ngày kể từ được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, chỉ có một cổ đông A thanh toán đủ số tiền mua cổ phần là 23 tỷ đồng, 2 cổ đông còn lại là B và C không thanh toán được tiền mua cổ phần. Cổ đông A, với tư cách là chủ tịch HĐQT, đại diện theo pháp luật của công ty đã thực hiện các thủ tục theo điểm a, b khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, nhưng không có kết quả. Sau đó, cổ đông A đã triệu tập ĐHĐCĐ bất thường ra quyết định Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp đủ số cổ phần đó (điểm c). Sau khi ra quyết định, A ký thỏa thuận với D, theo đó, D nhận góp toàn bộ số cổ phần mà B và C đã cam kết nhưng không thanh toán theo luật định, và CTCP ABC chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên. Việc chuyển đổi đã hoàn thành, D đã góp đủ vốn. Trường hợp này, chúng ta có thể đưa ra các trường hợp sau:
TH1: Ngay trong tháng đầu tiên hoạt động, công ty đạt lợi nhuận 39 tỷ đồng. Biết thông tin này, hai cá nhân B và C đã khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định huy động vốn và Hợp đồng góp vốn do trước đó họ không được triệu tập tham gia Đại hội đồng cổ đông bất thường (ĐHĐCĐ). Giả sử Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện và tuyên hợp đồng góp vốn vô hiệu. Theo đó, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Cách giải quyết này đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cần được xem xét.
Việc tuyên hợp đồng góp vốn vô hiệu trong khi các điều kiện pháp lý và thỏa thuận đã được các bên xác lập tự nguyện không chỉ xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của cổ đông D (người đã thực hiện góp vốn đúng thủ tục) mà còn tạo tiền lệ xấu cho môi trường đầu tư, làm giảm tính ổn định và dự báo trong hoạt động doanh nghiệp.
TH2: Công ty bị thua lỗ 61 tỷ và đang nợ ngân hàng 50 tỷ đồng. Trong hoàn cảnh đó, B và C cũng khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng góp vốn và tiếp tục được Tòa án chấp nhận. Nếu cách giải quyết như vậy tiếp tục được áp dụng, hậu quả pháp lý sẽ không chỉ dừng lại ở quyền lợi của các bên trong nội bộ công ty, mà còn gây ra tác động tiêu cực đến:
-
- Tính ổn định của các giao dịch dân sự – thương mại đã xác lập;
- Niềm tin của nhà đầu tư đối với pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp;
- Trật tự xã hội, đặc biệt trong môi trường kinh doanh cần sự ổn định và bảo đảm thực thi cam kết.
Việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là một nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển của doanh nghiệp, đồng thời cũng là công cụ pháp lý nhằm đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả trong quản trị, huy động vốn và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến trình tự, thủ tục chuyển đổi, cũng như cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Do đó, để nâng cao hiệu lực thực thi và tính ổn định của pháp luật doanh nghiệp, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp theo hướng minh bạch, khả thi và đảm bảo cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư và Nhà nước, từ đó tạo lập một môi trường kinh doanh an toàn, hấp dẫn và bền vững.
Văn phòng Luật sư VCT chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến lĩnh vực tư vấn pháp luật thường xuyên cho doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn thành lập doanh nghiệp, dịch vụ tư vấn đầu tư. Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ tư vấn liên quan đến doanh nghiệp và các dịch vụ tư vấn khác.
Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ.
Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật.
Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở văn phòng Luật sư VCT tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.
Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề “MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP BUỘC PHẢI CHUYỂN ĐỔI LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP” mà Luật sư VCT muốn gửi đến quý khách hàng. Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ qua hotline: 0971.17.40.40 hoặc email: Info@luatsuvct.com để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh được hợp tác với quý khách. Trân trọng
Văn phòng Luật sư VCT
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.luatsuvct.com
- CSKH: info@luatsuvct.com

