NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC KẾT HÔN

Việc kết hôn là bước khởi đầu để hình thành nên gia đình. Hôn nhân là mối quan hệ một vợ một chồng sau khi đăng ký kết hôn. Mối quan hệ này dựa trên tình yêu nam nữ tự nguyện, bình đẳng đồng thời thể hiện nghĩa vụ và quyền lợi trên mặt pháp lý thông qua các yếu tố về xã hội, giới tính, tôn giáo. Tuy nhiên đối với những người bị mất năng lực hành vi dân sự thì việc kết hôn lại là một trở ngại và bị xem là kết hôn trái pháp luật. Vậy pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về việc kết hôn của người bị mất năng lực hành vi dân sự?

Các bạn hãy cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi Luật sư VCT để biết rõ hơn về việc người mất năng lực hành vi dân sự có được kết hôn?:

Căn cứ pháp lý:

– Bộ luật Dân sự năm 2015;

– Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

1. THẾ NÀO ĐƯỢC COI LÀ NGƯỜI BỊ MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ?

Chúng tôi căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2015:

Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự

Do đó, căn cứ để xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự là khi có quyết định của Tòa án tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành 2015.

Căn cứ Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

– Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

– Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

– Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

– Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

– Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Quy định về điều kiện kế hôn

“Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại cácđiểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”

Như vậy, luật không quy định cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự mà chuyển đổi một cách linh hoạt có điều kiện: Người kết hôn phải không bị mất năng lực hành vi dân sựtheo Điểm c Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận thấy rõ NGƯỜI KẾT HÔN là người không bị mất năng lực hành vi dân sự.

DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LÝKhi nam nữ kết hôn trước hết họ phải thể hiện ý chí tự nguyện; Những người đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh kháckhông thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình thì không thể thể hiện ý chí của họ một cách đúng đắn được.

=> Do đó không có căn cứ xác định sự tự nguyện khi kết hôn của họ.

Mặt khác, Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Mọi giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện”

Trong khi đó, quan hệ hôn nhân và gia đình đặc biệt là trong việc kết hôn không thể thực hiện việc đại diện, bởi quyền kết hôn và ly hôn là quyền nhân thân gắn với bản thân mỗi người mà không thể chuyển giao, không thể ủy quyền cho người khác.

Các nghĩa vụ làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ cũng sẽ không thể thực hiện được, điều đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên trong gia đình.

Do vậy, xuất phát từ cơ sở khoa học và xã hội, pháp luật quy định không công nhận việc kết hôn của người bị mất năng lực hành vi dân sự.

Việc kết hôn của những người mất năng lực hành vi dân sự là trái pháp luật và là căn cứ để Tòa án xem xét quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật đó khi họ kết hôn vào thời điểm mất năng lực hành vi dân sự.

Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp người bị mất năng lực hành vi dân sự nào cũng được Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Đây là điểm bất cập của quy định hiện hành.

Thay vì quy định người mất năng lực hành vi dân sự không được kết hôn như pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành 2015 quy định thì nên quy định cụ thể hơn là Cấm kết hôn đối với những người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh kháckhông  có khả năng nhận thức được hành vi của mình.

Theo quy định trên thì sẽ không rơi vào tình trạng người bị mất năng lực hành vi dân sự không được Tòa án tuyên mà vẫn được đăng ký kết hôn. Đồng thời, quy định như trên sẽ dễ dàng cho Cán bộ hộ tịch trong việc xác định năng lực hành vi hành dân sự của người đăng ký kết hôn.

2. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC KẾT HÔN VỚI NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ

Từ những căn cứ pháp luật nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy việc:

“Người bị mất năng lực hành vi dân sự sẽ không đủ điều kiện để kết hôn”

Do đó, Cán bộ tư pháp của Ủy ban Nhân dân xã sẽ từ chối việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật của người mất năng lực hành vi dân sự nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy.

Tuy nhiên, có trường hợp tại thời điểm kết hôn họ mất năng lực hành vi dân sự nhưng đến thời điểm có yêu cầu hủy việc hủy kết hôn trái pháp luật họ đã hồi phục, cuộc sống của họ bình thường, cả hai bên vẫn có nguyện vọng được tiếp tục chung sống, có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.

Như vậy, người mất năng lực hành vi dân sự không được kết hôn. 

Chúng tôi hy vọng tư vấn của chúng tôi Luật sư VCT sẽ giúp ích cho các bạn; làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi Luật sư VCT về việc “NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÓ ĐƯỢC KẾT HÔN?”

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com