QUYỀN BIỂU QUYẾT VÀ TƯ CÁCH CỔ ĐÔNG SAU GIAO DỊCH CHUYỂN NHƯỢNG CHƯA ĐĂNG KÝ

Quyền biểu quyết và tư cách cổ đông là một trong những vấn đề pháp lý quan trong trong doanh nghiệp. Sau đây, Luật sư VCT sẽ phân tích, bình luận bản án số 49/2024/KDTM-PT ngày 23/07/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, liên quan đến tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng đã thực hiện giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp với công ty. Bài viết đồng thời cung cấp các phân tích pháp lý và bài học thực tiễn nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của cổ đông, quyền biểu quyết, tư cách pháp lý cũng như các hệ quả khi công ty không kịp thời cập nhật thay đổi thành viên/cổ đông sau giao dịch chuyển nhượng.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 80/2022/TLPT-KDTM ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty, yêu cầu hủy kết quả chia cổ tức, yêu cầu hủy nghị quyết đại hội cổ đông”.

Trong vụ án này, các sự kiện pháp lý chính bao gồm:

  • Ông Ngô Sỹ T1 là cổ đông sở hữu số lượng cổ phần lớn, có quyền lợi trực tiếp liên quan đến nghị quyết về giảm vốn điều lệ và miễn nhiệm Trưởng ban kiểm soát.
  • Công ty T5 đã nhận chuyển nhượng 285.000 cổ phần từ ông T1 ngày 16/5/2021. Giao dịch hoàn tất nhưng việc cập nhật thay đổi thành viên/cổ đông vào sổ đăng ký chưa kịp thời.
  • Hội đồng quản trị Công ty V thực hiện việc chia cổ tức năm 2021 mà không thông báo đầy đủ cho cổ đông, trong đó T5 không được nhận cổ tức, vi phạm khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020.

Bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của T5 nhưng đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Ngô Sỹ T1, dẫn đến kháng cáo và phúc thẩm.

Nội dung vụ án:

  • 2006: Công ty V thành lập, vốn điều lệ 2.005.000.000 đồng.
  • Đăng ký thay đổi vốn:
    • Lần 01: 2.195.500.000 đồng
    • Lần 03 (29-12-2014): 2.595.000.000 đồng
    • Lần 04 (12-3-2018): 8.960.000.000 đồng (896.000 cổ phần), thông qua Đại hội cổ đông, được Sở KH&ĐT cấp giấy chứng nhận.
  • Đầu năm 2019: Đại hội cổ đông thống nhất trả lại tiền mua cổ phần tăng thêm; không giảm số cổ phần của các cổ đông
  • 16-5-2021: Công ty T5 nhận chuyển nhượng 285.000 cổ phần từ ông Ngô Sỹ T1 (giá 5.200.000.000 đồng), giao dịch hoàn tất.
  • 16-6-2021: Ông T1 chứng nhận Công ty T5 sở hữu 285.000 cổ phần.
  • 18-6-2021: Ông T1 cập nhật danh sách cổ đông quản lý cổ phần theo khoản 7 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020.
  • 11-01-2022: Chủ tịch HĐQT Công ty V, ông Nguyễn Văn H, ban hành phiếu lấy ý kiến tạm chia cổ tức năm 2021; Công ty T5 không nhận được phiếu.
  • 20-01-2022: Việc kiểm phiếu hoàn tất; ông H tự chia cổ tức theo danh sách lập sẵn, không qua nghị quyết Đại hội cổ đông. Công ty T5 không được chia cổ tức, vi phạm khoản 4 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020.

Các vấn đề pháp lý:

Thứ nhất, Được công nhận tư cách cổ đông khi nào?

Việc xác định tư cách cổ đông trong công ty cổ phần không phụ thuộc hoàn toàn vào việc đã thanh toán đủ số cổ phần cam kết, mà được quy định rõ tại Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020. Điều này phản ánh nguyên tắc pháp lý rằng quyền tư cách cổ đông và quyền lợi liên quan được bảo vệ ngay khi cá nhân/tổ chức tham gia thành lập hoặc thực hiện mua cổ phần hợp pháp.

Một là, Tại thời điểm thành lập doanh nghiệp

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, cổ đông sáng lập là các cá nhân, tổ chức có tên trong dự thảo điều lệ và ký xác nhận tham gia thành lập công ty. Công ty cổ phần bắt buộc lập và duy trì sổ đăng ký cổ đông, qua đó ghi nhận tư cách pháp lý của các cổ đông. Một điểm mấu chốt là việc chưa thanh toán đủ số cổ phần cam kết không làm mất tư cách cổ đông trong giai đoạn đầu thành lập. Cụ thể, khoản 2 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:

“Trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua quy định tại khoản 1 Điều này, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.” 

Điều này cho phép cổ đông sáng lập hoàn tất việc góp vốn trong thời hạn tối đa 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoặc trong thời hạn ngắn hơn nếu Điều lệ công ty có quy định. Trong giai đoạn này:

  • Cổ đông vẫn được coi là cổ đông đầy đủ, tham gia quản lý, biểu quyết và hưởng quyền lợi tương ứng với số cổ phần đã đăng ký mua;
  • Quyền biểu quyết của cổ đông được tính dựa trên số cổ phần đăng ký mua, không phải số cổ phần đã thực góp;
  • Nếu cổ đông chỉ thanh toán một phần, quyền lợi và quyền biểu quyết sẽ tương ứng với phần đã góp;
  • Nếu quá thời hạn quy định mà cổ đông không thanh toán đủ vốn, họ mất tư cách cổ đông và không còn quyền lợi nào liên quan đến số cổ phần đăng ký.

Hai là, Sau thời điểm thành lập doanh nghiệp

Sau khi giai đoạn 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp kết thúc (hoặc thời hạn ngắn hơn theo thỏa thuận giữa các cổ đông), cơ chế “cổ đông sáng lập được coi là cổ đông ngay cả khi chưa thanh toán đủ vốn”không còn áp dụng. Theo khoản 5 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “5. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, người góp vốn trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán việc mua cổ phần và những thông tin về cổ đông quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi vào sổ đăng ký cổ đông.” Như vậy, Công ty có thể tiếp nhận cổ đông mới bằng cách:

  • Mua cổ phần của cổ đông hiện hữu;
  • Mua cổ phần mới khi công ty tăng vốn điều lệ, với vốn điều lệ mới được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Điều này có nghĩa rằng, sau thời hạn góp vốn ban đầu, chỉ khi cổ đông được ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông, họ mới thực sự có tư cách cổ đông và được hưởng đầy đủ quyền lợi, bao gồm quyền biểu quyết, nhận cổ tức và quyền tham gia quản lý công ty.

Tại bản án, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định rằng ngày 16-5-2021, ông T1 chuyển nhượng cho công ty T5 285.000 cổ phần, đây là số cổ phần phổ thông của ông T1 sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, nên ông T1 có quyền chuyển nhượng theo quy định tại Điều 120 và Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020. Do đó, việc chuyển nhượng giữa công ty T5 và ông T1 là hoàn toàn hợp pháp. Đồng thời, mặc dù vốn điều lệ của công ty V chưa được đăng ký thay đổi tại thời điểm này, việc tăng vốn điều lệ bằng cổ phần mới vẫn phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 111 và Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2014, và các cổ đông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền vào công ty. Từ những cơ sở pháp lý trên, có thể kết luận rằng tư cách cổ đông của công ty T5 được công nhận từ ngày 16-5-2021, sở hữu 285.000 cổ phần, đồng thời được hưởng đầy đủ quyền lợi liên quan như quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức và quyền tham gia quản lý công ty, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.

Từ những dẫn chứng nêu trên, có thể thấy rằng Việc chậm hoặc không đăng ký thay đổi cổ đông không làm mất quyền tư cách cổ đông hợp pháp nếu giao dịch chuyển nhượng đã hoàn tất và tuân thủ quy định pháp luật. Công ty và Hội đồng quản trị vẫn phải công nhận quyền lợi của cổ đông nhận chuyển nhượng, bao gồm quyền biểu quyết, nhận cổ tức, tham gia Đại hội đồng cổ đông.

Thứ hai, Hội đồng quản trị có được hủy bỏ cổ phần không?

Về nguyên tắc, Cổ phần là vốn góp của cổ đông, là quyền tài sản của cổ đông và là cơ sở pháp lý để xác định quyền biểu quyết, nhận cổ tức và tham gia quản lý công ty. Theo khoản 5 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty cổ phần có thể giảm vốn trong ba trường hợp:

  • Hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo quyết định của ĐHĐCĐ

Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, công ty hoàn trả một phần vốn góp cho cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty nếu công ty đã hoạt động kinh doanh từ 02 năm trở lên kể từ ngày đăng ký thành lập doanh nghiệp không kể thời gian đăng ký tạm ngừng kinh doanh và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác sau khi đã hoàn trả cho cổ đông.

  • Mua lại cổ phần đã phát hành theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của công ty

Trường hợp 1: theo yêu cầu của cổ đông

    • Cổ đông không đồng ý với nghị quyết về tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Yêu cầu phải bằng văn bản, nêu rõ số lượng cổ phần, giá dự kiến, lý do và gửi đến công ty trong 10 ngày kể từ ngày ĐHĐCĐ thông qua nghị quyết.
    • Công ty phải mua lại cổ phần theo giá thị trường hoặc giá tính theo nguyên tắc Điều lệ công ty trong 90 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu. Nếu không thỏa thuận được giá, có thể nhờ tổ chức thẩm định giá (công ty phải giới thiệu ít nhất 03 tổ chức để cổ đông lựa chọn).

Trường hợp 2: theo quyết định của công ty

    • Công ty được quyền mua lại tối đa 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán.
    • Công ty mua lại cổ phần của từng cổ đông theo tỷ lệ sở hữu, thông báo cho cổ đông trong 30 ngày, cổ đông đồng ý bán phải gửi văn bản đồng ý trong 30 ngày kể từ thông báo.
    • Công ty chỉ được thanh toán sau khi mua lại nếu vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, đồng thời phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với số cổ phần đã mua lại trong 10 ngày kể từ ngày hoàn thành thanh toán, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác.
  • Vốn điều lệ không được các cổ đông thanh toán đầy đủ và đúng hạn
    • Theo khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định thời hạn ngắn hơn.
    • Trong 30 ngày kể từ khi hết hạn thanh toán, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng số cổ phần đã được thanh toán, trừ trường hợp số cổ phần chưa thanh toán đã được bán hết; đồng thời đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập.

Như vậy, chậm nhất 120 ngày và sau 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập.

Việc hủy bỏ cổ phần liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu của cổ đông, do đó chỉ được thực hiện theo quy định pháp luật hoặc quyết định của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), không thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị (HĐQT). Trong trường hợp này, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định rằng “số cổ phần tăng lên của công ty không phải là cổ phần khống, mà dựa trên việc tăng vốn điều lệ từ phát hành cổ phần trên cơ sở vốn chủ sở hữu tương đương giá trị thực của tài sản tại thời điểm cổ phần hóa, đã được cơ quan chuyên môn định giá và các cổ đông đã đóng tiền đầy đủ”. Do đó, Quyết định số 01/QĐ-HĐQT ngày 16/5/2020 về việc hủy bỏ cổ phần khống, cổ phần quỹ của 62 cổ đông sở hữu 636.500 cổ phần là trái với quy định của Luật Doanh nghiệp. Vì vậy, quyết định của HĐQT về hủy cổ phần trong trường hợp này không có hiệu lực pháp lý, và các cổ đông sở hữu số cổ phần trên vẫn được công nhận đầy đủ tư cách cổ đông, hưởng các quyền liên quan như quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức và quyền tham gia quản lý công ty theo quy định pháp luật.

Thứ ba, Quyền đề nghị huỷ bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông lớn có quyền giám sát hoạt động công ty và tham gia quyết định những vấn đề quan trọng, bao gồm các nghị quyết liên quan đến giảm vốn điều lệ, cơ cấu quản trị, miễn nhiệm chức danh quản lý và quyền lợi tài sản của cổ đông. Quyền này được pháp luật bảo đảm nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quản trị công ty, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cổ đông.

Trong vụ việc nêu trên, ông Ngô Sỹ T1 là cổ đông lớn, sở hữu số lượng cổ phần đủ để bị ảnh hưởng trực tiếp từ các nghị quyết giảm vốn và miễn nhiệm Trưởng ban kiểm soát. Do đó, quyền yêu cầu độc lập hủy bỏ nghị quyết là hoàn toàn phù hợp với pháp luật. Quyền này vẫn được bảo lưu ngay cả khi cổ đông đã chuyển nhượng một phần cổ phần, miễn là phần cổ phần còn lại thuộc quyền sở hữu hợp pháp.

Về thẩm quyền triệu tập Đại hội đồng cổ đông, Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rằng Hội đồng quản trị có quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông thường niên và bất thường. Tuy nhiên, theo hồ sơ vụ việc, trong nhiệm kỳ 2019-2023, Đại hội đồng cổ đông chỉ bầu Chủ tịch HĐQT mà không bầu HĐQT. Do đó, việc ông H triệu tập đại hội là trái quy định pháp luật, dẫn đến nguy cơ nghị quyết được thông qua không hợp pháp về hình thức và thẩm quyền. Bên cạnh đó, một số cổ đông lớn, bao gồm công ty T5 sở hữu 285.000 cổ phần, không được mời tham dự Đại hội, vi phạm quyền biểu quyết và quyền giám sát theo Điều lệ công ty và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Điều này càng củng cố cơ sở pháp lý để ông T1 yêu cầu hủy nghị quyết, vì nghị quyết được thông qua không phản ánh đầy đủ ý chí và quyền lợi của cổ đông.

Như vậy, đối chiếu với các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 và tình trạng thực tế của vụ án, ông Ngô Sỹ T1 hoàn toàn có quyền yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và đảm bảo các quyết định của công ty được thực hiện minh bạch, đúng pháp luật, công bằng với tất cả các cổ đông.

Toà án cấp phúc thẩm nhận định “Từ những phân tích trên có căn cứ để xác định bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 08/9/2022 về việc “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; yêu cầu hủy kết quả chia cổ tức, yêu cầu huy nghị quyết đại hội cổ đông” của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, có sai lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn.”

Nguyên tắc bảo vệ và bài học thực tiễn

Trong pháp luật doanh nghiệp hiện hành, tư cách cổ đông và các quyền lợi liên quan của cổ đông là những quyền sở hữu và quyền lợi cơ bản, được pháp luật bảo vệ một cách nghiêm ngặt ngay từ thời điểm giao dịch chuyển nhượng hoặc mua bán cổ phần hợp pháp hoàn tất, bất kể việc cập nhật sổ đăng ký cổ đông chưa kịp thời. Điều này phản ánh nguyên tắc bảo vệ quyền tài sản và quyền tham gia quản trị của cổ đông, nhằm đảm bảo tính ổn định trong cơ cấu sở hữu và minh bạch trong quản trị doanh nghiệp.

HĐQT mặc dù là cơ quan quản lý cấp điều hành, không được phép tự ý hủy bỏ cổ phần của cổ đông. Mọi quyết định liên quan đến giảm vốn điều lệ, mua lại cổ phần, miễn nhiệm thành viên HĐQT, ban kiểm soát hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tài sản của cổ đông chỉ có thể được thực hiện theo quyết định của ĐHĐCĐ hoặc theo đúng quy định của pháp luật. Việc HĐQT vượt quá thẩm quyền không chỉ vi phạm Luật Doanh nghiệp 2020 mà còn có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng, bao gồm việc quyết định bị tuyên vô hiệu và ảnh hưởng đến uy tín quản trị công ty. Ngoài ra, pháp luật cũng ghi nhận vai trò giám sát và quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của cổ đông lớn. Cổ đông sở hữu số lượng cổ phần đủ lớn để bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các quyết định quan trọng của công ty có quyền theo dõi, đánh giá và, nếu thấy quyền lợi bị xâm phạm, yêu cầu hủy bỏ nghị quyết hoặc quyết định trái pháp luật. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cơ chế kiểm soát nội bộ, minh bạch trong quản trị công ty, đồng thời khuyến khích việc ra quyết định công bằng và tôn trọng quyền lợi của tất cả các cổ đông.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, công ty, chúng ta cần:

Cập nhật sổ đăng ký cổ đông: Công ty cần thực hiện việc ghi nhận thay đổi cổ đông kịp thời sau mỗi giao dịch chuyển nhượng cổ phần, bao gồm mua bán giữa các cổ đông hiện hữu hoặc cổ đông mới. Việc chậm trễ trong cập nhật sổ cổ đông không chỉ tạo ra tranh chấp về tư cách pháp lý, mà còn có thể làm phát sinh các yêu cầu khởi kiện từ các cổ đông bị ảnh hưởng.

Tuân thủ thẩm quyền và minh bạch trong ra quyết định: Mọi quyết định liên quan đến vốn điều lệ, quyền sở hữu cổ phần, miễn nhiệm, bổ nhiệm hoặc các quyền tài sản khác của cổ đông phải được thực hiện đúng theo thẩm quyền quy định tại Điều lệ công ty và Luật Doanh nghiệp. Việc ra quyết định sai thẩm quyền hoặc không minh bạch sẽ làm tăng rủi ro bị hủy nghị quyết và gây ảnh hưởng đến uy tín của HĐQT, cũng như tạo môi trường không ổn định cho cổ đông và nhà đầu tư.

Bảo vệ quyền lợi cổ đông lớn: Việc không mời đầy đủ cổ đông lớn tham dự Đại hội đồng cổ đông hoặc triệu tập trái thẩm quyền sẽ tạo ra các cơ sở pháp lý để cổ đông lớn yêu cầu hủy bỏ nghị quyết. Đây là bài học nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng quyền biểu quyết và quyền giám sát của cổ đông, đồng thời bảo đảm các quyết định đại hội phản ánh đúng ý chí của các cổ đông và minh bạch với tất cả các bên liên quan.

Minh bạch và trách nhiệm giải trình: HĐQT cần thiết lập cơ chế quản trị công ty minh bạch, lưu giữ đầy đủ biên bản họp, hồ sơ quyết định, thông báo cổ đông và các tài liệu liên quan. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý mà còn củng cố niềm tin của cổ đông và nhà đầu tư, tạo môi trường đầu tư an toàn, ổn định và bền vững.

Chính vì vậy, việc tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật doanh nghiệp, thẩm quyền quản trị và minh bạch trong quản lý vốn và cổ phần. Đây là những nguyên tắc nền tảng để duy trì sự ổn định và công bằng trong cơ cấu sở hữu, cũng như tăng cường niềm tin vào cơ chế quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Luật sư VCT là công ty chuyên về lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp, M&A. Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ về doanh nghiệp, đầu tư và các dịch vụ tư vấn khác thông qua các phương thức sau: 

Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ. 

Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. 

Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: Đường 7B, Khu phố Hoà phú 3, phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.

 

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com