QUYỀN HẠN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHÁP LUẬT TRONG DOANH NGHIỆP FDI

Doanh nghiệp là một tổ chức, do đó mọi hành vi pháp lý của doanh nghiệp đều phải được thực hiện thông qua người đại diện. Tùy theo phạm vi đại diện, người đại diện có quyền xác lập và thực hiện hợp đồng, tham gia các thủ tục tố tụng tại Tòa án hoặc Trọng tài, cũng như thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác thay mặt và vì lợi ích của doanh nghiệp trong quan hệ với bên thứ ba. Cơ chế đại diện giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả, linh hoạt trong điều hành và xử lý công việc hàng ngày. 

Người đại diện theo pháp luật là gì?

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

(Khoản 1 Điều 12 Luật Doanh nghiệp)

Các trường hợp không được là người đại diện theo pháp luật

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp (Điều 12, Điều 17) , các cá nhân sau đây không được đảm nhiệm vị trí đại diện pháp luật của doanh nghiệp:

  • Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, trừ trường hợp được thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
  • Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong nhà nước theo quy định;
  • Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân; 
  • Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng;

Trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật

Theo Điều 13 Luật Doanh nghiệp, trách nhiệm của người đại diện:

  • Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
  • Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
  • Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho doanh nghiệp về doanh nghiệp mà mình, người có liên quan của mình làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân theo quy định của pháp luật đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm

Các vấn đề cần lưu ý đối với người đại diện theo pháp luật

Số lượng: Công ty TNHH và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật, được quy định rõ trong điều lệ công ty. Nếu có nhiều người đại diện, điều lệ phải phân định rõ quyền, nghĩa vụ của từng người. Nếu không, tất cả đều có thẩm quyền đầy đủ trước bên thứ ba và chịu trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại.

Yêu cầu cư trú: oanh nghiệp phải có ít nhất một người đại diện cư trú tại Việt Nam. Nếu người đại diện duy nhất tại Việt Nam xuất cảnh, họ phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam, nhưng vẫn chịu trách nhiệm về việc ủy quyền.

Giấy phép lao động: Người đại diện là người nước ngoài phải có giấy phép lao động và tuân thủ quy định về nhập cảnh.

Đăng ký thông tin: Thông tin về người đại diện (tên, chức danh) phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh và công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp

Người đại diện theo pháp luật tại các doanh nghiệp DFI

Doanh nghiệp FDI (Foreign Direct Investment Enterprise) tức là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo quy định của pháp luật đầu tư Việt Nam, đây là loại hình doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam có phần vốn góp hoặc vốn điều lệ thuộc về nhà đầu tư nước ngoài.

Căn cứ khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, sửa đổi bổ sung 2022 “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp FDI có thể khác nhau, từ vài phần trăm đến 100%. Các loại hình phổ biến của doanh nghiệp FDI gồm:

  • Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài sở hữu toàn bộ vốn điều lệ.
  • Doanh nghiệp liên doanh: Có sự góp vốn của cả nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.
  • Chi nhánh hoặc văn phòng điều hành tại Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài.

Thực trạng phổ biến hiện nay của Người đại diện pháp luật trong doanh nghiệp FDI

Một là, Mâu thuẫn lợi ích giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài:

Trong các doanh nghiệp liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài và trong nước thường có chiến lược kinh doanh, văn hóa quản trị và mục tiêu lợi nhuận khác nhau. Người đại diện theo pháp luật, với vai trò trung tâm trong quản trị, nhiều khi rơi vào thế “lưỡng nan”: nếu thiên về một bên sẽ bị bên kia phản đối. Điều này dẫn đến tình trạng bế tắc trong việc ký kết hợp đồng, triển khai dự án hoặc quyết định đầu tư. Thực tế đã có nhiều vụ việc tranh chấp nội bộ kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Tình huống: Một công ty liên doanh sản xuất thực phẩm giữa nhà đầu tư Mỹ và Việt Nam gặp bất đồng khi nhà đầu tư Mỹ muốn mở rộng thị trường xuất khẩu, trong khi đối tác Việt Nam ưu tiên thị trường nội địa. Người đại diện theo pháp luật, ông Nguyễn Văn A, bị kẹt giữa hai luồng ý kiến, dẫn đến việc trì hoãn kế hoạch kinh doanh, mất cơ hội hợp tác với một đối tác xuất khẩu lớn, và gây thiệt hại tài chính cho công ty.

Vấn đề pháp lý đặt ra nhiều câu hỏi:

  • Quyền hạn, phạm vi đại diện: Nếu điều lệ công ty không quy định rõ, người đại diện theo pháp luật sẽ chịu áp lực từ cả hai bên, dễ rơi vào tình thế bị quy trách nhiệm.

Ví dụ như: Ông A quyết định ưu tiên xuất khẩu theo ý nhà đầu tư Mỹ, đối tác Việt Nam có thể cho rằng ông vi phạm nghĩa vụ trung thành với lợi ích chung của công ty, dẫn đến tranh chấp nội bộ.

  • Cơ chế giải quyết bất đồng: Nếu thiếu quy định trong điều lệ hoặc thỏa thuận liên doanh về việc xử lý khi thành viên/cổ đông có ý kiến khác biệt, thì người đại diện không có căn cứ để lựa chọn.Các bất đồng kéo dài có thể dẫn đến khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh.
  • Trách nhiệm cá nhân: Người đại diện có thể bị cho là thiếu trách nhiệm hoặc vi phạm nghĩa vụ trung thành nếu thiên vị một bên. Thậm chí có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường nếu công ty bị thiệt hại do trì hoãn hoặc quyết định sai hướng.

Ví dụ như:  Nếu ông A ưu tiên chiến lược xuất khẩu nhưng dự án thất bại, đối tác Việt Nam có thể khởi kiện ông A, yêu cầu bồi thường thiệt hại do quyết định không phù hợp với lợi ích chung của công ty.

Hai là, Vấn đề quản trị xuyên biên giới

Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nhiều quyết định quan trọng được ban hành từ công ty mẹ ở nước ngoài, trong khi người đại diện tại Việt Nam chỉ là “cầu nối” triển khai. Điều này khiến việc ra quyết định bị chậm trễ, không phù hợp với thị trường Việt Nam, hoặc khó linh hoạt trong xử lý tình huống khẩn cấp. Thêm vào đó, các báo cáo tài chính, hợp đồng lớn đều phải chờ phê duyệt từ trụ sở chính, gây tốn kém thời gian và cơ hội kinh doanh.

Tình huống: Một công ty FDI trong lĩnh vực công nghệ phải chờ phê duyệt từ trụ sở chính tại Nhật Bản để ký hợp đồng lớn, dẫn đến việc đối thủ cạnh tranh giành được hợp đồng trước.

Vấn đề pháp lý đặt ra trong tình huống này:

  • Quyền quyết định bị hạn chế: Như đã phân tích, người đại diện theo pháp luật có đầy đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng thay mặt công ty. Nhưng do nội quy nội bộ hoặc chính sách tập đoàn ràng buộc, người đại diện không được tự quyết, phải xin phép trụ sở chính → gây mất cơ hội kinh doanh.
  • Nguy cơ trách nhiệm cá nhân: Nếu công ty mất hợp đồng và bị thiệt hại, người đại diện dễ bị quy trách nhiệm là chậm trễ, không chủ động. Mặc dù hạn chế này đến từ cơ chế quản trị nội bộ chứ không phải từ lỗi cá nhân.

Ba là, Đứng tên giùm cho doanh nghiệp

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài do vướng quy định pháp luật Việt Nam (ví dụ: hạn chế về ngành nghề, điều kiện đầu tư, thủ tục cư trú/làm việc), đã nhờ người Việt Nam đứng tên làm người đại diện theo pháp luật. Trên thực tế, cá nhân này không có quyền quyết định thực sự mà chỉ làm “bình phong”. Điều này tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn: khi phát sinh tranh chấp, trách nhiệm pháp lý sẽ đổ dồn lên người đại diện đứng tên, trong khi họ không hề được hưởng lợi ích thực chất. Đây là hiện tượng khá phổ biến, đặc biệt trong các doanh nghiệp FDI nhỏ và vừa.

Tình huống: Ông Nguyễn Văn A, một người Việt Nam, được một nhà đầu tư Singapore nhờ đứng tên làm người đại diện theo pháp luật cho Công ty TNHH DEF, một doanh nghiệp FDI nhỏ trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Ông B không tham gia quản lý thực tế mà chỉ ký các giấy tờ theo yêu cầu của nhà đầu tư. Sau hai năm, cơ quan thuế phát hiện công ty kê khai sai lệch doanh thu, dẫn đến hành vi trốn thuế. Ông B, với tư cách người đại diện, bị cơ quan chức năng triệu tập và đối mặt với khoản phạt hành chính 50 triệu đồng, đồng thời bị điều tra trách nhiệm hình sự. 

Ông B phải chịu trách nhiệm pháp lý dù không trực tiếp tham gia điều hành hay hưởng lợi. Nhà đầu tư Singapore từ chối hỗ trợ, khiến ông B rơi vào tình cảnh khó khăn.

Như vậy Việc đứng tên là người đại diện theo pháp luật giùm người khác tiềm ẩn nhiều rủi ro như:

  • Khai Người đại diện không đúng với thực tế: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp (Điều 43 Nghị định 122/2021/NĐ-CP)
  • Kinh doanh trái phép: Trong trường hợp các hoạt động của công ty không như mong muốn chủ quan, việc kinh doanh thua lỗ, hoặc các hành vi vô tình hay cố ý dẫn tới tội danh trốn thuế, kinh doanh trái phép thì người đại diện theo pháp luật lúc này sẽ là người đầu tiên phải chịu trách nhiệm trước trọng tài, tòa án về các nghĩa vụ giải trình, nộp phạt hành chính, thậm chí là trách nhiệm hình sự.

CSPL: Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, Điều 200 BLHS

  • Nghĩa vụ đối với công ty: Bỏ qua những rủi ro liên quan đến hoạt động trái pháp luật của doanh nghiệp, thì vẫn còn đó một loại rủi ro đó là trách nhiệm của người quản lý với các cổ đông, thành viên công ty. Điều 59 Luật Doanh nghiệp đã quy định cụ thể các trách nhiệm của các chức danh quản lý trong công ty. Các trách nhiệm đó bao gồm thực hiện nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, điều lệ và các nghị quyết của công ty …. Trong trường hợp những người quản lý trong Công ty không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, Điều 166 Luật Doanh nghiệp cho phép các chủ sở hữu hay nhóm chủ sở hữu trong doanh nghiệp khởi kiện để yêu cầu những người quản lý đó bồi thường cho công ty. Việc những người đứng tên giùm không biết hoặc không quan tâm đến các trách nhiệm của mình chắc chắn ko phải là lý do để miễn trừ trách nhiệm pháp lý của họ.
  • Rủi ro tài chính: Theo nguyên tắc, trong trường hợp thành viên/cổ đông không thực hiện góp vốn như cam kết thì người đó (chính là người trên hồ sơ giấy tờ pháp lý) sẽ liên đới chịu trách nhiệm với những nghĩa vụ tài chính của công ty (Khoản 4 Điều 47 Luật Doanh nghiệp). Nếu người đứng tên giùm không thực sự hiểu biết và quan tâm đến hoạt động của công ty, chính họ sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm với những khoản nợ trên trời rơi xuống .

Bốn là, Xung đột văn hóa quản trị

Sự khác biệt về văn hóa doanh nghiệp, phong cách quản lý giữa các nhà đầu tư ngoại và môi trường Việt Nam cũng là thách thức. Nhà đầu tư nước ngoài thường theo phong cách quản trị minh bạch, quy trình chuẩn mực; trong khi ở Việt Nam, nhiều khi vẫn dựa vào “linh hoạt” và quan hệ cá nhân. Người đại diện theo pháp luật, nếu là người Việt, có thể khó thích nghi với yêu cầu khắt khe từ công ty mẹ; ngược lại, nếu là người nước ngoài, họ có thể không quen với thủ tục hành chính, văn hóa kinh doanh tại Việt Nam. Sự khác biệt này nhiều khi dẫn đến hiểu lầm, mâu thuẫn và làm giảm hiệu quả hợp tác.

Tình huống: Công ty GHI, một doanh nghiệp FDI của Đức trong lĩnh vực sản xuất ô tô, bổ nhiệm ông Hans làm người đại diện theo pháp luật tại Việt Nam. Ông Hans áp dụng phong cách quản trị chuẩn mực của Đức, yêu cầu mọi quy trình phải minh bạch và tuân thủ chặt chẽ. Tuy nhiên, trong quá trình xin giấy phép xây dựng nhà máy mới, ông gặp khó khăn với các thủ tục hành chính tại địa phương, nơi đòi hỏi “mối quan hệ” và sự linh hoạt trong xử lý. Ông Hans từ chối các phương thức không minh bạch, dẫn đến việc cấp phép bị kéo dài hơn một năm. Dự án xây dựng nhà máy bị chậm tiến độ, gây tổn thất tài chính và làm giảm uy tín của công ty tại thị trường Việt Nam.

Tình huống này đưa ra nhiều vấn dề như:

  • Phong cách chặt chẽ, minh bạch theo chuẩn quốc tế: Nhà đầu tư nước ngoài thường yêu cầu người đại diện tuân thủ các quy trình quản trị minh bạch, báo cáo chi tiết, và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế. Điều này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp và tránh rủi ro pháp lý.
  • Thực tiễn hành chính tại địa phương: Ở Việt Nam, một số thủ tục hành chính hoặc giao dịch kinh doanh vẫn phụ thuộc vào sự linh hoạt, các mối quan hệ cá nhân, hoặc cách xử lý “khéo léo” ngoài quy định chính thức. Điều này đặc biệt phổ biến trong các lĩnh vực như cấp phép, đấu thầu, hoặc làm việc với cơ quan nhà nước.

→ Người đại diện như ông Hans bị kẹt trong mâu thuẫn giá trị: Nếu tuân thủ hoàn toàn chuẩn mực quốc tế, họ có thể gặp khó khăn trong việc hoàn thành thủ tục tại địa phương; nếu linh hoạt theo cách địa phương, họ có thể bị công ty mẹ hoặc cơ quan kiểm toán quốc tế đánh giá là thiếu minh bạch. Không những thế sự không tương thích giữa hai phong cách quản trị dẫn đến trì hoãn các hoạt động quan trọng, như cấp phép, ký kết hợp đồng, hoặc triển khai dự án.

Doanh nghiệp FDI cần quy định rõ quyền hạn trong Điều lệ, lựa chọn người đại diện có năng lực và am hiểu pháp luật Việt Nam, đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ nội bộ. Người đại diện cũng cần nhận thức đầy đủ về trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ của mình để bảo vệ lợi ích doanh nghiệp và hạn chế rủi ro cá nhân.

Luật sư VCT là công ty chuyên về lĩnh vực tư vấn, thực hiện các thủ tục M&A trong và ngoài nước. Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ về M&A và các dịch vụ tư vấn khác thông qua các phương thức sau: 

Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ. 

Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. 

Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Lợi, thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com