THỰC TRẠNG VỀ VIỆC GÓP VỐN CỦA CỔ ĐÔNG SÁNG LẬP

Trong cơ cấu công ty cổ phần, việc cổ đông sáng lập thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn không chỉ phản ánh trách nhiệm pháp lý cơ bản của họ, mà còn đóng vai trò nền tảng trong việc xác lập tư cách cổ đông hợp pháp, bảo đảm tính minh bạch và chính xác của vốn điều lệ – một trong những trụ cột của sự ổn định tài chính và quản trị công ty. Hành vi này không chỉ duy trì quyền lợi hợp pháp của các cổ đông hiện hữu mà còn củng cố niềm tin pháp lý và kinh tế của các đối tác, nhà đầu tư và các bên thứ ba có liên quan, góp phần đảm bảo an toàn trong các giao dịch kinh doanh. Trong khuôn khổ bài viết, Luật sư VCT sẽ tiến hành phân tích tổng thể cả về lý luận và thực tiễn, làm rõ các cơ chế pháp lý, hậu quả và vai trò then chốt của nghĩa vụ góp vốn trong việc duy trì tính minh bạch, ổn định và phát triển bền vững của công ty cổ phần.

1. Vấn đề thời điểm chấm dứt tư cách cổ đông sáng lập khi cổ đông vi phạm nghĩa vụ thanh toán

Thanh toán đầy đủ số cổ phần đã đăng ký là nghĩa vụ pháp lý cơ bản của bất kỳ nhà đầu tư nào muốn trở thành cổ đông của công ty cổ phần. Theo khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký trong vòng 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ khi Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định thời hạn ngắn hơn. Thời gian vận chuyển, nhập khẩu hoặc thực hiện thủ tục hành chính khi góp vốn bằng tài sản không được tính vào thời hạn này. Hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát và đôn đốc cổ đông thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ và đúng hạn.

Thanh toán đủ cổ phần đã đăng ký mua là trách nhiệm của bất kỳ nhà đầu tư nào khi muốn trở thành cổ đông của công ty cổ phần.

Hệ quả pháp lý khi cổ đông vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại khoản 3 Điều 113:

  • Vi phạm toàn bộ số cổ phần đã đăng ký: Cổ đông không còn tư cách cổ đông và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần cho người khác.
  • Vi phạm một phần số cổ phần đã đăng ký: Cổ đông vẫn giữ tư cách cổ đông, được hưởng quyền biểu quyết, lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng số cổ phần chưa thanh toán.
  • Số cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị có quyền bán cho người khác.
  • Trong vòng 30 ngày kể từ khi hết hạn thanh toán, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo mệnh giá số cổ phần đã thanh toán; nếu số cổ phần chưa thanh toán được bán hết trong thời hạn này, công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập.

Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ trong vòng 30 ngày kể từ khi hết hạn thanh toán, dựa trên số cổ phần đã thanh toán. Nếu số cổ phần chưa thanh toán được bán hết, công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập. Như vậy, Luật Doanh nghiệp thừa nhận tồn tại tình trạng vốn “ảo” trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trừ trường hợp có quy định khác). Mức độ vi phạm quyết định hệ quả pháp lý: vi phạm toàn bộ dẫn đến mất tư cách cổ đông, vi phạm một phần dẫn đến quyền lợi tương ứng với cổ phần đã thanh toán.

Ví dụ: Công ty Cổ phần ABC có 3 cổ đông sáng lập: A, B, C, mỗi người đăng ký mua 1.000 cổ phần. Thời hạn thanh toán theo Điều lệ là 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

  • Trường hợp A không thanh toán toàn bộ 1.000 cổ phần:
    • Sau 90 ngày, A không thanh toán, theo khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp, A mất tư cách cổ đông và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần cho người khác.
    • 1.000 cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị có quyền bán cho nhà đầu tư khác.
  • Trường hợp B chỉ thanh toán 600/1.000 cổ phần:
    • B vẫn giữ tư cách cổ đông, nhưng chỉ sở hữu 600 cổ phần đã thanh toán.
    • B có quyền biểu quyết, nhận lợi tức tương ứng với 600 cổ phần này.
    • 400 cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán, công ty có quyền bán cho người khác.
  • Trường hợp C thanh toán đủ 1.000 cổ phần đúng hạn: C hoàn toàn đủ tư cách cổ đông với quyền lợi đầy đủ.

Vấn đề đặt ra liệu tư cách cổ đông chấm dứt vào thời điểm nào?

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, góp vốn là việc cổ đông chuyển tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm cả việc góp vốn khi thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ cho công ty đã thành lập. Bản chất của góp vốn là chuyển quyền sở hữu tài sản sang công ty để trở thành cổ đông.

Trong giai đoạn thành lập, công ty chưa tồn tại nên chưa thể nhận tài sản của cổ đông; do đó, Luật quy định cổ đông có thời hạn 90 ngày kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký (trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng mua cổ phần có quy định khác). Tư cách cổ đông chỉ được xác lập khi cổ đông thực hiện việc chuyển quyền sở hữu tài sản sang công ty.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần.” và theo khoản 2 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020 “Cổ phần đã bán là cổ phần được quyền chào bán đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty. ”

Khi hết thời hạn này mà cổ đông chưa thanh toán đủ:

  • Nếu không thanh toán toàn bộ, cổ đông mất tư cách cổ đông, không được chuyển nhượng quyền mua cho người khác;
  • Nếu thanh toán một phần, cổ đông vẫn giữ tư cách cổ đông nhưng quyền biểu quyết, lợi tức và các quyền khác chỉ tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; số cổ phần chưa thanh toán được coi là chưa bán và Hội đồng quản trị có quyền bán lại.

Ngoài ra, việc thực hiện thủ tục hành chính để cập nhật thông tin cổ đông sáng lập tại cơ quan đăng ký kinh doanh không đồng nghĩa với việc xác lập hay duy trì tư cách cổ đông. Điều này xuất phát từ bản chất pháp lý của cổ đông: tư cách cổ đông được xác lập dựa trên việc sở hữu thực tế cổ phần đã được thanh toán đầy đủ, chứ không phụ thuộc vào việc thông tin được ghi nhận hay công bố trong sổ đăng ký kinh doanh.

Cụ thể, theo Điều 28 Luật Doanh nghiệp 2020, hiện nay thông tin về cổ đông không còn là nội dung bắt buộc trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, phản ánh xu hướng giảm bớt vai trò chứng nhận hành chính trong xác lập quyền sở hữu cổ phần. Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch và cập nhật pháp lý, công ty vẫn phải thực hiện thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp theo Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2020 khi có sự thay đổi về cổ đông.

Như vậy, việc thông báo hay cập nhật thông tin cổ đông chỉ mang tính chất hành chính, quản lý thông tin; nó không tạo ra quyền sở hữu hay tư cách cổ đông. Quyền và nghĩa vụ của cổ đông vẫn được xác lập trên cơ sở thực tế số cổ phần đã thanh toán, và các quyền này chỉ phát sinh kể từ khi cổ phần được góp đủ và công ty có khả năng sở hữu tài sản đó.

2. Vấn đề cách thức xử lý số cổ phần chưa được cổ đông sáng lập góp đủ

Theo Điểm c khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, các cổ phần mà cổ đông sáng lập chưa thanh toán đầy đủ được coi là cổ phần chưa bán, và Hội đồng quản trị có quyền bán những cổ phần này cho nhà đầu tư khác. Quy định này nhằm đảm bảo vốn điều lệ thực tế của công ty để thực hiện hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro pháp lý đối với bên thứ ba, đồng thời duy trì tính minh bạch và ổn định trong quản lý tài sản cũng như quyền lợi của các cổ đông. Việc xử lý số cổ phần chưa góp cũng phản ánh trách nhiệm của cổ đông sáng lập trong việc thực hiện cam kết góp vốn, từ đó củng cố niềm tin của nhà đầu tư và đối tác kinh doanh.

Thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập phát sinh khi một hoặc nhiều cổ đông sáng lập không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn. Mục tiêu chính của thủ tục này là khai báo với cơ quan Nhà nước về sự thay đổi cổ phần, cổ đông và vốn điều lệ, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xem xét trách nhiệm cá nhân của cổ đông sáng lập đối với những nghĩa vụ tài sản mà công ty đã phát sinh với bên thứ ba trong thời gian chưa cập nhật thông tin với cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, phạm vi trách nhiệm này có thể vượt quá giá trị cổ phần mà cổ đông đã đăng ký mua, đặc biệt nếu công ty đã phát sinh các nghĩa vụ tài chính hoặc hợp đồng với đối tác bên ngoài. Khi giao dịch chuyển nhượng cổ phần không làm thay đổi vốn điều lệ, thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập chủ yếu nhằm cập nhật thông tin người mới trở thành cổ đông sáng lập và số lượng cổ phần nắm giữ, mang bản chất hành chính. Thủ tục này không phát sinh quyền lợi hay nghĩa vụ mới, nhưng bắt buộc phải thực hiện để đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp của hồ sơ doanh nghiệp, đồng thời cung cấp dữ liệu chính xác về cơ cấu cổ đông cho cơ quan quản lý.

Theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025, một trong những hành vi nghiêm cấm là: “Kê khai giả mạo, kê khai không trung thực, kê khai không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp” (Khoản 5 Điều 1). Hậu quả pháp lý đối với hành vi này rất nghiêm trọng, có thể dẫn đến thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu hồ sơ đăng ký là giả mạo, theo Điểm a khoản 1 Điều 212 Luật Doanh nghiệp 2020. Không những vậy, việc kê khai thông tin cổ đông hoặc nội dung hồ sơ không trung thực còn có thể khiến doanh nghiệp chịu trách nhiệm hành chính. Cụ thể, theo Điều 43 Nghị định 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021, hành vi kê khai không trung thực hoặc không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp nhằm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Quy định này vừa mang tính răn đe, vừa bảo đảm doanh nghiệp phải thực hiện đúng các nghĩa vụ kê khai, góp phần nâng cao tính minh bạch và an toàn pháp lý trong quản lý doanh nghiệp.

Về thực tiễn, tại Bản án số 08/2012/KDTM-PT ngày 11/10/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố H, công ty cổ phần XL5 đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 20/01/2006 với 5 cổ đông sáng lập, đăng ký mua 100% tổng số cổ phần phổ thông được chào bán, phù hợp với các quy định của Luật Doanh nghiệp. Cụ thể, ông Trịnh Văn K đăng ký mua 30.000 cổ phần (27,28%), ông Phạm Thanh H 20.000 cổ phần (18,18%), ông Nguyễn Bảo C 20.000 cổ phần (18,18%), ông Nguyễn Văn D 20.000 cổ phần (18,18%) và ông Nguyễn Xuân M 19.998 cổ phần (18,18%). Trong quá trình hoạt động, mặc dù công ty đã tổ chức nhiều cuộc họp để thông báo và bàn về việc góp vốn, 4 cổ đông sáng lập là ông H, ông C, ông M và ông D đã không nộp tiền cổ phần theo đăng ký ban đầu từ thời điểm đăng ký kinh doanh đến nay. Cấp phúc thẩm đã nhận định rằng các hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ký kết ngày 18/08/2009 giữa ông K và các ông H, C, D, M là không có thật, thể hiện việc ông K và công ty cổ phần XL5 không trung thực trong hồ sơ đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cho rằng “việc này chỉ là thủ tục đăng ký kinh doanh lại để thay đổi tên cổ đông sáng lập, do đó việc các cổ đông sáng lập có ký tên hay không ký tên trong hợp đồng không có giá trị pháp lý vì tại thời điểm này họ không có tư cách cổ đông của công ty.” Quan điểm này chưa hợp lý, vì bỏ qua bản chất pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và cho phép giả mạo hồ sơ doanh nghiệp để thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập vì theo quy định Luật Doanh nghiệp 2005 (thời điểm thành lập doanh nghiệp) cũng quy định hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh là bị cấm (khoản 3 Điều 11), với hậu quả là có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, dẫn đến giải thể bắt buộc (Điều 157, 165). 

Pháp luật doanh nghiệp 2020 mặc dù không thay đổi căn bản so với luật trước, nhưng đã cụ thể hóa và chi tiết hóa nhiều quy định liên quan đến việc đăng ký doanh nghiệp và trách nhiệm kê khai thông tin cổ đông. Theo đó, mặc dù thông tin cổ đông không bắt buộc phải xuất hiện trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhưng bắt buộc phải được ghi nhận đầy đủ trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch và khả năng truy cứu trách nhiệm của doanh nghiệp và các cổ đông trong mọi giao dịch phát sinh. Vì vậy, khi có thay đổi cổ đông sáng lập, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thông báo thay đổi theo quy định tại Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2020. Thủ tục này chỉ mang tính chất hành chính và không dẫn đến việc cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhưng vẫn là căn cứ pháp lý bắt buộc để cơ quan quản lý nắm bắt thông tin doanh nghiệp một cách trung thực.

Thực tiễn tại Việt Nam, không hiếm xảy ra tình trạng cổ đông không góp vốn và/hoặc góp vốn ít, nhưng công ty vẫn trao cổ phiếu cho cổ đông, dẫn đến nhiều hệ lụy xấu, có thể kể đến như:

Thứ nhất, Quyền của bên thứ ba trong quan hệ với công ty

Bản chất của việc trao cổ phiếu cho cổ đông nhằm khẳng định một nhà đầu tư đã góp vốn đầy đủ vào công ty. Công ty có thêm tài sản phục vụ cho việc kinh doanh, bảo đảm cho việc thanh toán các khoản nợ. Thông tin về vốn điều lệ của công ty được hiển thị trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ công ty, trong đó có thể có một phần vốn do cổ đông chưa góp vào công ty. Tuy vậy, khi cổ đông không góp vốn và/hoặc góp vốn  ít hơn so với nghĩa vụ phải góp nhưng công ty vẫn thừa nhận tư cách cổ đông thông qua hành vi trao đổi cổ phiếu, điều này làm cho con số về vốn điều lệ có trên văn kiện của công ty chỉ là các con số ảo, không phản ánh đúng năng lực tài chính thật sự của công ty. Thế nhưng, từ gốc độ của bên thứ ba trong mối quan hệ với công ty, tài chính với công ty là một trong những vấn đề để cân nhắc hợp tác nhưng họ khó có điều kiện để xác thực với vấn đề này.

Luật Doanh nghiệp 2020 mặc dù đã quy định quy kết trách nhiệm cho cổ đông, người góp vốn, thậm chí buộc những chủ thể này phải chịu trách nhiệm cá nhân. Khi họ vi phạm nghĩa vụ thanh toán cổ phần thì họ không còn quyền sở hữu đối với cổ phần đó vì họ không còn “quyền” tư cách cổ đông đối với cổ phần chưa thanh toán, nhưng “trách nhiệm” vẫn kéo dài sau thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nhưng từ góc độ của bên thứ ba (bên ngoài công ty), họ gần như không thể chứng minh cổ đông hay người quản lý công ty đã không trung thực trong việc góp vốn. Khi bên thứ ba chứng minh được, nhiều khi những cổ đông và/hoặc người quản lý đó cũng không còn ở công ty. Đặt trường hợp người thứ ba phát hiện và đủ chứng cứ để chứng minh có cổ đông chưa góp vốn, nhưng liệu bên thứ ba có quyền khởi kiện để buộc cổ đông chịu trách nhiệm hay không? Bởi vì việc cổ đông vi phạm nghĩa vụ góp vốn là mối quan hệ giữa cổ đông và công ty.

Trong trường hợp bên thứ ba khởi kiện công ty để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ giao dịch, Bản án hoặc Quyết định của Tòa án/Trọng tài sẽ buộc công ty phải thực hiện nghĩa vụ này. Tuy nhiên, nếu công ty không có đủ khả năng tài chính để thanh toán (thường nguyên nhân do cổ đông sáng lập không góp đủ vốn, dẫn đến vốn điều lệ thực tế thấp hơn cam kết), thì cơ chế thi hành án dân sự gần như bị “đóng băng”, bởi Tòa án không thể kê biên hoặc thu đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ. Trong thực tế, đây là tình huống thường gặp đối với các công ty cổ phần mới thành lập hoặc doanh nghiệp hoạt động thiếu vốn điều lệ thực, tạo ra rủi ro pháp lý rất lớn cho các đối tác kinh doanh.

Nếu bên thứ ba yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp để thu hồi nợ, khả năng họ thu hồi đủ quyền lợi của mình phụ thuộc vào tài sản còn lại của công ty và thứ tự ưu tiên trong thanh toán nợ. Thực tiễn cho thấy, phần lớn doanh nghiệp khi phá sản do không góp đủ vốn thường không còn tài sản đáng kể, nên tỷ lệ thu hồi thường thấp, đôi khi chỉ vài phần trăm so với nghĩa vụ gốc. Thêm vào đó, thủ tục phá sản kéo dài nhiều năm, liên quan đến kiểm toán tài sản, xác định nợ, và xử lý quyền lợi của các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên, làm giảm đáng kể hiệu quả thu hồi quyền lợi cho bên thứ ba.

Trong khi đó, nếu bên thứ ba thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo để buộc chủ thể vi phạm nộp phạt hành chính, quyền lợi tài chính của họ vẫn không được bảo đảm, vì chế tài hành chính chỉ buộc cá nhân hoặc công ty vi phạm nộp phạt, chứ không trực tiếp giải quyết nghĩa vụ dân sự hoặc bồi thường thiệt hại phát sinh từ giao dịch. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý: bên thứ ba có thể đã chịu thiệt hại thực tế nhưng không thể thu hồi đủ tài sản hoặc giá trị tương đương, dẫn đến rủi ro tài chính và pháp lý cho các giao dịch với doanh nghiệp có vốn góp chưa đầy đủ.

Như vậy, việc cổ đông sáng lập không góp đủ vốn điều lệ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty, mà còn tác động mạnh đến quyền lợi của các bên thứ ba, làm giảm hiệu lực của cơ chế thi hành án và phá sản, đồng thời làm giảm khả năng bảo vệ quyền lợi thông qua cơ chế xử lý hành chính. Đây cũng là lý do pháp luật doanh nghiệp hiện hành yêu cầu rõ ràng về nghĩa vụ góp vốn và trách nhiệm cá nhân của cổ đông sáng lập, nhằm hạn chế rủi ro cho cả công ty và các đối tác kinh doanh.

Hai là, Các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu cổ phiếu khi cổ đông không góp (thực tế) nhưng họ lại yêu cầu quyền lợi tương ứng với tỷ lệ sở hữu (danh nghĩa) mà họ được xác nhận thông qua cổ phiếu mà họ được sở hữu.

Một vấn đề pháp lý phổ biến trong các công ty cổ phần là tranh chấp về quyền sở hữu cổ phần, đặc biệt khi cổ đông sáng lập hoặc cổ đông hiện hữu chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn nhưng vẫn yêu cầu thực hiện quyền lợi tương ứng với tỷ lệ sở hữu danh nghĩa mà họ được ghi nhận trên sổ cổ đông hoặc Giấy chứng nhận cổ phần. Đây là tình huống phát sinh mâu thuẫn giữa quyền lợi danh nghĩa và quyền lợi thực tế, làm nảy sinh các xung đột pháp lý phức tạp.

Trong thực tiễn xét xử, tranh chấp kiểu này thường phát sinh khi:

  • Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp chưa phản ánh kịp thời sự thiếu hụt vốn góp, dẫn đến cơ quan quản lý và các bên thứ ba hiểu nhầm về mức vốn thực tế của công ty.
  • Cổ đông chưa góp vốn đã được cấp Giấy chứng nhận cổ phần, mặc dù thực chất họ chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tình trạng này dễ dẫn đến nhầm lẫn giữa quyền sở hữu danh nghĩa và quyền lợi thực tế, đặc biệt là quyền tham gia biểu quyết, nhận cổ tức, hoặc quyền ưu tiên trong các giao dịch phát hành cổ phần mới.
  • Các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần giả tạo hoặc chưa thực hiện tạo cơ sở pháp lý cho cổ đông yêu cầu quyền lợi không tương xứng với thực tế, từ đó phát sinh tranh chấp giữa cổ đông, công ty và các bên thứ ba liên quan.

Từ góc độ nhà đầu tư, nếu họ chưa thanh toán cổ phần nhưng chưa nhận cổ phiếu, loại tài sản này chưa thực sự lưu thông trên thị trường, nên quyền lợi của họ về mặt pháp lý vẫn chưa hình thành đầy đủ. Tuy nhiên, khi cổ phiếu đã được cấp, nhà đầu tư về mặt pháp lý có tư cách cổ đông và có thể khai thác các quyền của cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp, bao gồm quyền tham dự họp đại hội, biểu quyết, hoặc nhận thông tin về công ty.

Điều này dẫn đến một thực trạng pháp lý rủi ro: nếu nhà đầu tư chưa thực hiện nghĩa vụ góp vốn, họ vẫn có thể thực hiện những hành vi gây bất lợi cho công ty, chẳng hạn như yêu cầu quyền lợi chưa thực hiện, phản đối quyết định của Hội đồng quản trị hoặc tham gia biểu quyết các vấn đề quan trọng, trong khi công ty không có cơ sở pháp lý rõ ràng để ngăn chặn. Việc chứng minh hành vi này là phức tạp, tốn kém và đôi khi kéo dài, bởi công ty cần chứng minh cả tình trạng thực tế về vốn góp lẫn tính hợp pháp của quyền lợi yêu cầu.

Như vậy, tranh chấp quyền sở hữu cổ phần khi cổ đông chưa góp vốn không chỉ là vấn đề nội bộ công ty, mà còn là rủi ro pháp lý cho các nhà đầu tư thứ ba, đối tác và cơ quan quản lý. Giải pháp pháp lý hiệu quả đòi hỏi công ty phải:

  • Minh bạch hóa hồ sơ cổ đông và vốn góp thực tế;

  • Không cấp quyền lợi cho cổ đông chưa góp vốn;

  • Cập nhật kịp thời thông tin thay đổi cổ đông trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp để đảm bảo cơ sở pháp lý và giảm rủi ro tranh chấp.

Ba là, Vấn đề phá hạn trách nhiệm đối với cổ đông

Một trong những vấn đề pháp lý quan trọng trong quản trị công ty cổ phần là phá vỡ “vỏ bọc công ty” để buộc cổ đông chịu trách nhiệm cá nhân khi họ vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, nếu cổ đông không thực hiện nghĩa vụ góp vốn đúng hạn hoặc đóng góp vốn không đúng giá trị thực tế, họ có thể bị buộc chịu trách nhiệm vượt ra ngoài giới hạn vốn góp, nhằm bảo đảm quyền lợi của công ty, các cổ đông khác và các bên thứ ba có liên quan. 

Một ví dụ điển hình là khi tài sản góp vốn bị định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn, các cổ đông sáng lập sẽ phải bù phần chênh lệch giữa giá trị định giá và giá trị thực tế, đồng thời chịu trách nhiệm liên đới với mọi thiệt hại phát sinh từ việc định giá sai (Khoản 2 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020). Quy định này nhằm ngăn chặn việc cổ đông lợi dụng cơ chế góp vốn bằng tài sản để gia tăng tỷ lệ sở hữu danh nghĩa mà không thực sự đóng góp tài sản có giá trị tương ứng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công ty và các cổ đông khác, đồng thời đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quản trị vốn.

Ngoài ra, các thành viên Hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của công ty cũng phải chịu trách nhiệm liên đới nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về nghĩa vụ góp vốn của cổ đông theo khoản 1, điểm d khoản 3 Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020. Cơ chế này đảm bảo rằng các cá nhân quản lý công ty không thể lẩn tránh trách nhiệm thông qua hình thức pháp nhân, đồng thời củng cố tính kỷ luật, minh bạch và an toàn pháp lý trong quản trị vốn điều lệ, hạn chế hành vi gian lận hoặc che giấu nghĩa vụ tài chính.

Như vậy, cơ chế phá vỡ giới hạn trách nhiệm của cổ đông vừa là công cụ pháp lý để xử lý trực tiếp các cổ đông vi phạm nghĩa vụ góp vốn, vừa là biện pháp răn đe hiệu quả, giúp duy trì tính minh bạch, ổn định trong quản lý vốn điều lệ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công ty, cổ đông khác cũng như các bên thứ ba liên quan.

Tuy nhiên, khi cổ đông đã nắm giữ cổ phiếu, vấn đề chứng minh cổ đông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ góp vốn theo cam kết trở nên phức tạp. Về mặt pháp lý danh nghĩa, những cổ đông này vẫn được hưởng “vỏ bọc công ty”, tức là giới hạn trách nhiệm cá nhân chỉ trong phạm vi vốn đã cam kết, khiến họ tạm thời được bảo vệ trước các yêu cầu bồi thường hoặc nghĩa vụ tài chính phát sinh từ công ty. Quá trình chứng minh việc cổ đông chưa thực sự góp vốn đúng cam kết thường không đơn giản; nó đòi hỏi hồ sơ kế toán, chứng từ chuyển tiền, định giá tài sản và các tài liệu liên quan phải được thu thập và đối chiếu một cách chính xác.

Điều này càng trở nên khó khăn khi tranh chấp phát sinh nhiều năm sau khi công ty được thành lập, bởi giá trị thực tế của tài sản góp vốn có thể đã thay đổi theo thời gian, hồ sơ chứng minh có thể bị thất lạc hoặc không còn đầy đủ, và các bên liên quan có thể không còn nhớ chính xác các thỏa thuận ban đầu. Do đó, việc xác định giá trị thực tế của vốn góp để áp dụng cơ chế phá vỡ “vỏ bọc công ty” trở thành một thách thức lớn về cả pháp lý và thực tiễn, đồng thời làm tăng chi phí, thời gian và độ phức tạp của việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công ty và các cổ đông khác.

Việc cổ đông sáng lập không góp đủ vốn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty mà còn tạo ra rủi ro pháp lý đối với các cổ đông khác và bên thứ ba, đồng thời làm giảm hiệu lực của cơ chế bảo vệ quyền lợi thông qua cơ chế dân sự, phá sản hay hành chính. Do đó, việc quy định rõ nghĩa vụ góp vốn, trách nhiệm cá nhân của cổ đông và cơ chế xử lý cổ phần chưa góp đầy đủ là cần thiết để duy trì tính minh bạch, ổn định và an toàn pháp lý trong quản trị công ty cổ phần.

Luật sư VCT là công ty chuyên về lĩnh vực tư vấn doanh nghiệp. Quý đối tác, Quý khách hàng có thể liên hệ với Luật sư VCT để sử dụng dịch vụ về doanh nghiệp và các dịch vụ tư vấn khác thông qua các phương thức sau: 

Thứ nhất, tư vấn trực tuyến qua số điện thoại: Khách hàng có nhu cầu sẽ kết nối đến tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua hotline: 0971.17.40.40 nếu khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết hoặc tham khảo giá trước khi thực hiện dịch vụ. 

Thứ hai, tư vấn qua email: Nếu quý khách không thể đến trực tiếp mà mà vẫn muốn nhận được ý kiến tư vấn của luật sư/chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực tư vấn đầu tư của Luật sư VCT thì có thể gửi câu hỏi trong lĩnh vực qua email: Info@luatsuvct.com. Chúng tôi sẽ chủ động liên hệ lại dựa trên thông tin pháp lý mà khách hàng cung cấp để báo giá dịch vụ hoặc tư vấn miễn phí nếu đó là vấn đề pháp lý phổ thông trong lĩnh vực tư vấn pháp luật. 

Thứ ba, tư vấn trực tiếp tại văn phòng: Đối với những vấn đề pháp lý phức tạp, Quý khách hàng có thể chủ động đặt lịch tư vấn trực tiếp tại trụ sở Luật sư VCT tại địa chỉ: Đường 7B, Khu phố Hoà phú 3, phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh. Đội ngũ luật sư/Chuyên gia pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn đầu tư sẽ nghiên cứu hồ sơ, yêu cầu và tư vấn, giải đáp trực tiếp những vướng mắc mà khách hàng gặp phải.

 

Thông tin chi tiết, quý khách hàng có thể liên hệ:
Văn phòng Luật sư VCT
  • Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
  • Holine: 0971 174 040
  • Webiste: www.luatsuvct.com
  • CSKH: info@luatsuvct.com