
Theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020, việc một tổ chức hoặc cá nhân thực hiện việc thanh toán tiền mua cổ phần không mặc nhiên, và trong một số trường hợp không là điều kiện tiên quyết, làm cho tổ chức hoặc cá nhân đó trở thành cổ đông Công ty cổ phần. Một tổ chức hoặc cá nhân có thể trở thành cổ đông Công ty cổ phần tại thời điểm thành lập Doanh nghiệp và/hoặc sau thời điểm thành lập doanh nghiệp
Tại thời điểm thành lập doanh nghiệp
Để thành lập công ty, dự thảo điều lệ gửi cơ quan đăng ký kinh doanh phải có tên và chữ ký của Cổ đông sáng lập. Cũng tại thời điểm này, Điều lệ Công ty cổ phần có hiệu lực và Công ty Cổ phần phải lập và duy trì sổ đăng ký cổ đông.
Tại thời điểm thành lập, tổ chức hoặc cá nhân có thể chưa thanh toán đủ số tiền mua cổ phần cam kết nhưng vẫn có tư cách cổ đông. Luật doanh nghiệp năm 2020 cho phép cổ đông góp đủ vốn theo thời hạn cam kết với các cổ đông khác nhưng trong mọi trường hợp không vượt quá 90 ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. ((Theo khoản 1, Điều 113, Luật doanh nghiệp năm 2020). Nói cách khác, trong giai đoạn tối đa 90 ngày (hoặc một giai đoạn ngắn hơn theo thoả thuận giữa các cổ đông) kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tổ chức cá nhân chưa thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua vẫn có tư cách cổ đông giống như các cổ đông đã góp vốn đầy đủ.
Trong trường hợp chưa có cổ đông nào thanh toán, vốn điều lệ ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, điều lệ, sổ đăng ký cổ đông cam kết thanh toán chứ không phải là tổng mức vốn đã thực góp hoặc thanh toán.
Vấn đề này được quy định cụ thể tại khoản 2, Điều 113 Luật doanh nghiệp năm 2020 như sau:
“Trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua quy định tại khoản 1 Điều này, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.”
Như vậy, đối với những cổ đông sáng lập khi mới thành lập thì tư cách cổ đông được xác lập kể từ khi được “Cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” cho đến thời điểm tối đa là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp (Ngoại trừ Điều lệ quy định thời hạn thanh toán ngắn hơn thì phải thực hiện theo Điều lệ), cổ đông phải thanh toán đủ số tiền mua cổ phần đã cam kết mua, trường hợp sau thời hạn này mà cổ đông không thanh toán thì sẽ không là cổ đông của Công ty nữa, còn cổ đông chỉ thanh toán một phần cổ phần đã đăng ký mua thì quyền lợi của cổ đông đó chỉ tương ứng với số cổ phần mà họ đã thanh toán. (Điểm a, b khoản 3 Điều 113 Luật doanh nghiệp năm 2020).
Sau thời điểm thành lập công ty
Căn cứ vào khoản 5, Điều 113 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định thì: Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này (Trường hợp đối với cổ đông sáng lập mới thành lập như phần trên), người góp vốn trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán việc mua cổ phần và những thông tin về cổ đông quy định tại các điểm b,c,d bà đ khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi vào sổ đăng ký cổ đông.
Công ty cổ phần có thể tiếp nhận các cổ đông mới sau thời điểm kết thúc giai đoạn 90 ngày (hoặc một giai đoạn ngắn hơn theo thoả thuận giữa các thành viên hoặc cổ đông) kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các cổ đông mới có thể mua cổ phần của cổ đông hiện hữu.
Sau khi giai đoạn 90 ngày (hoặc một giai đoạn ngắn hơn theo thoả thuận giữa các cổ đông) kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp kết thúc, một tổ chức hoặc cá nhân chỉ trở thành cổ đông khi đã thanh toán tiền mua cổ phần và được ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông. Cơ chế trở thành cổ đông khi cam kết mua cổ phần như tại thời điểm thành lập công ty không còn áp dụng.
Bằng chứng về quyền cổ phần và thông qua đó xác định tư cách cổ đông là một vấn đề phức tạp theo pháp luật về doanh nghiệp và thông lệ thị trường. Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định cụ thể một tổ chức hoặc cá nhân trở thành cổ đông tại thời điểm được ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông. Ngoài ra, trong trường hợp mua thêm cổ phần mới, vốn điều lệ của công ty được tăng tương ứng và vốn điều lệ mới cũng được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trong các trường hợp này, ảnh hưởng của việc ghi nhận vốn điều lệ mới trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với tư cách cổ đông còn chưa hoàn toàn rõ ràng. Cũng có quan điểm cho rằng, cổ đông chỉ có quyền thành cổ đông đầy đủ tại thời điểm các thay đổi trên được ghi nhận trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Một vấn đề nữa mà các cổ đông cần phải chú ý liên quan đến vấn đề xác lập tư cách cổ đồng đó là việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông cho cá nhân, tổ chức bên ngoài.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 127 Luật doanh nghiệp năm 2020 thì Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật này (Hạn chế sau thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đối với những cố đông sáng lập thì không được quyền chuyển nhượng cổ phần cho người ngoài, ngoại trừ được sự chấp thuận của Đại hội cổ đông) hoặc do Điều lệ quy định hạn chế chuyển nhượng.
Giả sử, sau thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Điều lệ công ty không hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần. Cổ đông được quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho tổ chức, cá nhân bên ngoài, đã lập hợp đồng chuyển nhượng đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi yêu cầu công ty đăng ký thay đổi sổ đông cho người mua cổ phần nhưng công ty không đồng ý thay đổi thì người mua cổ phần có được xác lập tư cách cổ đông hay không? và được xác lập vào thời điểm nào?
Theo quy định tại khoản 7, Điều 128 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của cổ đông có liên quan trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy định tại Điều lệ công ty.
Như vậy, mặc dù Luật doanh nghiệp không quy định rõ trường hợp nếu Công ty không đồng ý đăng ký thay đổi cổ đông mới nhận chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện hữu thì cổ đông mới có trở thành cổ đông của công ty hay không và xác lập tư cách cổ đông này vào thời điểm nào?
Tuy nhiên, theo quan điểm của Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương, căn cứ vào khoản 7, Điều 128 Luật doanh nghiệp năm 2020 nêu trên thì trong thời hạn 24h kể từ khi nhận được yêu cầu xác nhận tư cách cổ đông nếu công ty không phản hồi thì người nhận chuyển nhượng cổ phần sẽ đương nhiên trở thành cổ đông của công ty cổ phần.
Đối với Công ty cổ phần, không phải công ty đại chúng, sổ đăng cổ đông được giữ tại công ty và việc ghi nhận tư cách cổ đông vào các sổ đăng ký trên có thể tiến hành ngay tại thời điểm thanh toán tiền mua cổ phần. Đối với công ty đại chúng, sổ đăng ký cổ đông được lưu giữ tại TTLKCK. Thời điểm cổ đông thanh toán tiền mua cổ phần và thời điểm TTLKCK ghi nhận tên vào sổ đăng ký cổ đông thường là hai thời điểm khác nhau. TTLKCK thường mất khoảng từ một vài ngày đến 1-2 tuần để ghi nhận tên của cổ đông vào sổ đăng ký cổ đông kể từ thời điểm cổ đông thanh toán tiền mua cổ phần.
Bài viết dựa trên sự phân tích pháp lý của đội ngũ nhân viên tư vấn pháp luật thường xuyên Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương. Do bị giới hạn bởi lượng kiến thức rộng lớn mà tầm hiểu biết còn nhiều hạn chế. Rất mong nhận được sự góp ý và trao đổi từ Quý anh chị để bản thân ngày càng hoàn thiện hơn.
Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho nhiều cổ đông khi trong việc mua bán, chuyển nhượng cổ phần.
Phòng pháp lý tư vấn thường xuyên cho doanh nghiệp, Công ty Luật TNHH Pháp lý AV Bình Dương.
Văn phòng Luật sư VCT
- Địa chỉ: 530 Nguyễn Văn Trỗi, Phường Phú Lợi, Thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương, Việt Nam Xem địa chỉ
- Holine: 0971 174 040
- Webiste: www.luatsuvct.com
- CSKH: info@luatsuvct.com


